Đỗ Văn Phúc

Các Dấu Dùng trong Câu Văn (Punctuation Marks)

Muốn cho người đọc hiểu rõ, cần tách ra làm nhiều câu ngắn hơn.

Trước khi đi vào việc dùng các dấu chính; chúng ta nói sơ qua về cấu trúc của chữ và câu.

Chữ (word) là đơn vị nhỏ nhất có mang một ý nghĩa. Ví dụ: Nhà, xe, đi, xanh, đỏ …

Nhóm chữ (phrase): đơn giản là một kết hợp có từ 2 chữ (words) trở lên có mang một ý nghĩa, nhưng có thể không tròn một câu (incompleted); tức là không cần có động từ (verb) hay túc từ (subject). Các ví dụ: con cá voi lớn, chiếc xe đỏ, lái xe cẩn thận, một người đàng hoàng…

Một phrase có một chữ chính (head word) và một hay nhiều chữ khác để bổ túc cho chữ chính. Các ví dụ về những loại phrase chính là: Người bạn tốt, lái xe cẩn thận, quá lạnh và tối, hết sức chậm chạp, vân vân. Theo thứ tự là: noun phrase, verb phrase, adjective phrase, adverb phrase,

Mệnh đề (clause) là một kết hợp có từ hai chữ sắp lên và được cấu tạo ít nhất bởi một chủ từ (subject) và một động từ (verb) hay có thêm túc từ (object). Có khi có thêm cả tĩnh từ, trạng từ… Ví dụ: Chiếc xe chạy. Chuông reo nhanh. Tôi đến Sài Gòn. Anh ta làm việc đó một cách xuất sắc.

Một mệnh đề độc lập (independent clause) có thể coi là một câu ngắn. Ví dụ: Tôi sẽ đi ngày mai.

Nhưng nếu nó bị ràng buộc bởi một hay nhiều mệnh đề khác, nó sẽ là mệnh đề phụ (dependent clause hay còn gọi là subordinate clause.) Mệnh đề phụ không diễn đạt toàn vẹn một ý chính và tự nó không trở thành một câu.

Ví dụ: Nếu làm xong thủ tục, tôi sẽ đi ngày mai.

Hai mệnh đề này làm thành một câu. Nếu cho một dấu chấm sau mệnh đề phụ, thì mệnh đề phụ sẽ tối nghĩa, không hoàn chỉnh. Ví dụ: Mệnh đề độc lập “Tôi sẽ đi ngày mai” có thể đứng một mình mà vẫn đủ ý. Còn mệnh đề phụ “Nếu làm xong thủ tục” tách ra một mình coi không ổn.

Còn nhiều loại mệnh đề khác. Nhưng chúng ta tạm dừng ở đây để đi qua phần khác.

Câu (sentence): là một đoạn văn ngắn hay dài chuyển đạt trọn vẹn một ý chính. Tất cả các câu phải có ít nhất một mệnh đề.

Ví dụ: Tôi sẽ đi xa.

Câu này cũng vừa là một mệnh đề độc lập (independent clause), vì tự nó đã tròn ý.

Nhưng câu cũng có thể có nhiều mệnh đề (complex sentence): một mệnh đề chính (main clause) và một hay các mệnh đề phụ (subordinate clause).

Ví dụ: Khi nào trời mưa (mệnh đề phụ), chúng ta khỏi tưới cỏ (mệnh đề chính).

Câu ghép (compound sentence) cấu tạo bởi hai hay nhiều mệnh đề độc lập.

Ví dụ: Chiếc xe đã đỗ trước nhà, và chúng tôi lên xe.

Gọi là câu ghép, vì nếu tách hai mệnh đề ra, nó sẽ là hai câu tròn nghĩa mà không lệ thuộc nhau.

Các mệnh đề phụ và chính trong câu phải nối với nhau bằng liên từ (và, nhưng, vì, bởi vì, hoặc, tuy nhiên…) hay một dấu chấm phẩy (semi colon) tuỳ trường hợp. Nhưng không được dùng dấu chấm (period). Vì dấu chấm là để chấm dứt một câu.

Các mệnh đề độc lập có thể được nối với nhau bằng dấu phẩy (comma) nhưng phải có liên từ đi theo.

Ví du: Ông Hai rời khỏi nhà, và bà Hai xách giỏ đi chợ.

Các mệnh đề độc lập cũng có thể nối với nhau bằng dấu chấm phẩy mà không cần liên từ.

Ví dụ: Ông Hai ra khỏi nhà; bà Hai ra bếp sửa soạn thức ăn.

Thí dụ trước, hai mệnh đề nối nhau bằng dấu phẩy vì có chữ “và”. Ví dụ sau hai mệnh đề nối nhau bằng chấm phẩy vì không có chữ “và”.

Các dấu căn bản:

Các dấu đi liền ngay sau các chữ. Nhưng sau các dấu, phải chừa một khoảng ngắn (space) và chỉ một mà thôi trước khi viết chữ hay câu khác.

Dấu chấm (.) Period.

Dấu chấm là dấu được dùng nhiều nhất. Mỗi một câu dầy đủ phải được kết thúc bằng một dấu chấm. Mệnh đề độc lập coi như một câu cũng chấm dứt bằng một dấu chấm. Dấu chấm cho phép người đọc dừng lại hoàn toàn trước khi đọc câu khác.

Ví dụ 1: Tôi ngồi bên cô ta trên cái ghế dài và bắt đầu kể cho cô nghe về chuyến du lịch của tôi.

Trong câu này, hai mệnh đề có chung một chủ từ “tôi” nên nối nhau bằng chữ “và” mà không dùng dấu chấm phẩy.

Ví dụ 2: Tôi ngồi bên cô ta trên cái ghế dài, và cô kể cho tôi nghe về chuyến du lịch của cô.

Câu này có hai mệnh đề với hai chủ từ khác nhau (tôi, cô ta) nên phải có dấu phẩy ở giữa.

Ví dụ 3: Anh Ba hỏi tôi khi nào thì về.

Câu này là một câu hỏi gián tiếp nên phải dùng dấu chấm thay vì dấu hỏi.

Khi một câu kết thúc bằng một chữ cuối có dấu chấm, thì không thêm dấu chấm khác nữa.

Ví dụ: Ông Hùng mơí nhận được bằng Ph.D. Ông ấy là bạn của anh tôi.

Ví dụ: Thành trì này bị tàn phá trong trận đánh năm 400 A.D.

Trong hai trường hợp trên, chữ Ph.D. và A.D. đã có dấu chấm cuối chữ D nên không cần thêm một dấu chấm câu khác.

Nếu các câu nằm giữa các dấu ngoặc hay dấu trích dẫn, phải đánh dấu chấm trước khi đóng ngoặc hay đóng dấu trích dẫn.

Ví dụ 1: Bác Ba nói rằng: “Ngày mai trời lại sáng.”

Ví dụ 2: (Điều này đã được nhắc ở trên.)

Dấu hai chấm (:) Colon

Dấu hai chấm cũng rất thường dùng và dễ hiểu. Nó dùng để giới thiệu một chữ, một câu, một danh sách, hay một trích dẫn. Sau đây là vài ví dụ:

Hắn chỉ có một ước muốn trong đầu: du lịch.
Cô ấy chỉ còn một điều chưa toại: lấy chồng giàu.
Tôi muốn bữa ăn phải có: canh, cá kho, rau luộc.
Hắn nói với tôi rằng: “Mình phải đi xa.”

Dấu chấm phẩy hay còn gọi là chấm phết (;) Semicolon

Chúng ta phải rất cẩn thận khi dùng dấu chấm phẩy. Nó được dùng để nối hai câu (hay hai mệnh đề độc lập) với nhau. Hai câu đó phải chứa đưng một nội dùng tương tự hoặc có liên quan với nhau. Hai câu mà nội dung không liên quan với nhau phải được tách ra bằng dấu chấm.

Ví dụ: Thái Thanh là một ca sĩ tài ba; bà thành công trong từng nốt nhạc.

Chúng ta thấy hai câu trên có thể đứng riêng mà vẫn đủ nghĩa, nhưng nó không nhấn mạnh sự liên quan với nhau.

Không nên dùng dấu chấm phẩy khi dùng một liên tự ở đầu câu thứ hai. Vì trong trường hợp này, liên từ và dấu phẩy thay thế dấu chấm phẩy.

Ví dụ: Thái Thanh là một danh ca, và bà thành công trong từng nốt nhạc.

Trường hợp đặc biệt: Trong một câu có một liệt kê những sự việc hay sự kiện có sẵn các dấu phẩy, chúng ta dùng dấu chấm phẩy để nối các sự kiện này.

Ví dụ: Những ngày ghi nhớ trong đời tôi là ngày 1 tháng 6, 1946; ngày 20 tháng 4, 1969; ngày 3 tháng 5, 1969; và ngày 9 tháng 5, 1990.

Dấu phẩy hay dấu phết (,) Comma.

Dấu phẩy cho phép người đọc tạm dừng lại chớp nhoáng. Nó dùng để tách riêng từng điểm trong một dãy sự việc hay sự vật (items).

Ví dụ: Chị Hai đi chợ mua cá, thịt, rau, sữa, và kem.

Để ý: Phải thêm liên tự “và” ở sự vật cuối dù đã có dấu phẩy trước đó. Giữa hai sự vật liên đới với nhau thì không dùng dấu phẩy.

Ví dụ: Tôi đã gọi các món cá chiên, tôm lăn bột, rau xà lách và nước sốt, và kem tráng miệng.

Để ý: Món xà lách đi đôi với nước sốt nên nối nhau bằng chữ “và’. Còn chữ “và” đứng trước chữ kem là để cho thấy đây là món riêng biệt cuối cùng. Nhưng phải có dấu phẩy giữa nước sốt và kem tráng miệng vì hai món này riêng biệt nhau.

Như trên có nói, dấu chấm phẩy nối hai câu với nhau. Nhưng cũng có thể dùng dấu phẩy và một liên từ như câu ví dụ “Thái Thanh là một danh ca, và bà thành công trong từng nốt nhạc”

Ngoài các dấu chính chúng ta thường dùng là dấu chấm (period), dấu phẩy (comma), dấu chấm phẩy (semi colon), và dấu hai chấm (colon); còn nhiều loại dấu khác như dấu than (!), dấu hỏi (?), dấu ngoặc mở và đóng (), dấu ba chấm (…) dấu nối (-), dấu và (&), dấu trích (“), dấu bằng (=), dấu lớn hơn (>), nhỏ hơn (<) vân vân.

Vài ví dụ:

Dấu hỏi: Anh có biết hay không?
Dấu than: Trời chi mà tối tăm ghê!

Tuy mang tên là dấu than, nhưng nó cũng được dùng biểu lộ các tình cảm yêu, ghét, giận, vui, buồn, mừng, ham muốn; như trong câu: Gặp nhau mừng nhé!

Dấu gạch ngang: Tôi đã đến thành phố La Mã – là nơi mà tôi hằng mong muốn – trong tháng qua.
Dấu trích: Ông Tám có nói với tôi: “ Hôm nay ông ấy đi Sài Gòn.”
Dấu ba chấm: Trong tủ sách có các loại truyện kiếm hiệp, trinh thám, lãng mạn…

Dấu ba chấm có thể thay bằng chữ “vân vân”. Ví dụ Trong tủ sách có các loại truyện kiếm hiệp, trinh thám, lãng mạn, vân vân.

Sau khi đã bàn qua cách dùng các dấu, chúng ta trở lại câu văn dài đã nói ở đoạn mở đầu. Chúng tôi thử đề nghị cách chia nó ra thành 3 câu ra như sau:

Tổng thống Trump đã thực hiện hiệu quả hầu hết những gì ông hứa khi ra tranh cử. Một phần là nhờ sự hiểu biết lịch sử sâu sắc mà ông rút được kinh nghiệm quý báu của những người đi trước; một phần khác là cùng với bản tính cương quyết và cứng rắn nhưng khôn khéo giúp Tổng thống Trump trong việc đàm phán kinh tế, chính trị, và ngoại giao trong thế mạnh. Tổng thống đã lãnh đạo Hoa Kỳ thành công khi cả Hạ viện lẫn Thượng viện đều do đảng Cộng Hoà nắm giữ và Tối Cao Pháp Viện cũng thuộc cánh bảo thủ nắm đa số.

Để kết luận, chúng tôi lại xin thưa rằng người viết bài này trước đây cũng rất lúng túng khi dùng các dấu phẩy và chấm phẩy. Cuốn sách viết ra đầu tiên đã được nhiều bạn bè sửa hàng trăm lỗi chính tả. Vì thế, xin quý vị tha thứ những sai lầm có thể khó tránh trong bài và xem đây là một cố gắng nhằm giúp nhau hoàn thiện trong cách viết. Dù là Việt văn hay Anh văn, cách đánh dấu cũng không khác nhau bao nhiêu.

Chính nhà văn Kurt Vonnegut – có sự nghiệp văn chương kéo dài hơn nửa thế kỷ tại Hoa Kỳ với hàng chục truyện ngắn, kịch bản – cũng từng nói, ‘chớ nên dùng dấu chấm phẩy… biết cách dùng nó chỉ là để chứng minh bạn đã học qua đại học.’ Ý của ông là khuyên các người viết trẻ đừng qua lo lắng về cách dùng dấu mà hãy viết như thể những gì đối thoại bình thường.

Dù sao, biết và viết đúng vẫn hơn. Phải không, thưa quý vị?
~~~~~~~~~~