Đại Chủng Viện Xuân Bích Huế

(1970-1971)

ĐCV XB - Thành - 2005
1995 - với bạn cùng lớp, cha quản lý ĐCV, Alphong Trần Khánh Thành (RIP 2007).

Thế là tôi nghiễm nhiên trở thành một ông tú và chuyển lên một giai đoạn mới trong cuộc đời tận hiến: được mặc áo dòng đen. Lúc này tình hình kinh tế của gia đình tôi không mấy sáng sủa . Tôi nhớ rõ là không có tiền may áo dòng nên nhờ Sr. Gabriel dòng Bình Cang may cho một cái . Vé máy bay cũng không có tiền mua . Một buổi trưa, trong khi các em ngủ, mẹ tôi và tôi lén lấy mấy con heo (bằng ống tre) của các em, đập ra và gom góp đủ tiền mua vé máy bay cho tôi đi Huế học. Cha Nguyễn Văn Lạc đã thương mừng cái bằng tú tài bằng một bữa cá nục cuốn bánh tráng dưới nhà của ngài .

Tháng 9 tôi đáp máy bay ra Đà Nẵng rồi đi xe ra Huế. Một lần nữa tôi thấy lại cầu Tràng Tiền vẫn còn nằm đó. Chợ Đông Ba vẫn đông người, ... Sinh hoạt vẫn bình thường như năm xưa, ngoại trừ những vết đạn pháo còn in dấu trên các vách tường trong thành phố. Con người, dù đã trải qua bao nhiêu biến động, đau thương, kết cục rồi cũng phải tạm gác qua một bên những vết thương tinh thần lẫn thể xác, để tiếp tục vật lộn với cuộc sống, với những nhu cầu hiện tại và nhất là lo xây dựng cho tương lai .

Xe chạy vào cổng Đại Chủng Viện Kim Long, Huế, lòng tôi thấy nao nao và có vẻ hơi sợ. Những dãy đồ sộ và kín cổng cao tường này tôi không lạ gì vì đã đến thăm nhiều lần khi nội trú ở Thiên Hựu . Lần nầy tôi vào đây với tư cách chính thức: là một sinh viên thực thụ của trường. Các linh mục thuộc tu hội Xuân Bích thật bình dân và vui tính. Trong các anh em lớp triết I tôi đã biết hơn một nửa vì hơn 11 người thuộc địa phận Nha Trang (2 anh em cùng lớp: Thành, Trí, và 8 anh trên tôi hai lớp, vừa giúp xứ hai năm về) cộng thêm những anh thuộc Tiểu Chủng Viện Huế và Kon Tum mà tôi đã từng học chung khi còn ở trung học. Riêng các lớp lớn thì chủng sinh Nha Trang khá đông. Những yếu tố này giúp tôi lấy lại tinh thần và không còn bỡ ngỡ như những giây phút đầu nữa .

Nói về những anh em khác trong lớp tôi thì bề trên đã phân chia như sau: Lành giúp xứ tại Vinh Tân (Bình Tuy), Độ đi giúp xứ tại Vinh Lưu, Phan Thiết; Định, Linh, Phượng lên Giáo Hoàng Chủng Viện Đà Lạt.

Ban giáo sư tại Kim Long năm đó có các cha: Nguyễn Sơn Lâm, giám đốc, Cao Như Sơn (Barnouin, người Pháp, cao 1 m 80!), Bouyer (Bình), Hiển, Trần Thái Hiệp, Mai Đức Vinh, Lê Quang Anh, Trịnh Thiên Thu, Trần Ngọc Huỳnh và các cha ở ngoài vào dạy . Ngoài những giờ học trong trường, tôi cũng đi ra ngoài làm những công tác mục vụ khác nhau: đi thăm những người nghèo tại bến đò Thượng Tứ, bệnh viện thành phố bên kia sông, ... Năm đó tôi có một người dì là Soeur Benilda Hoàn, Saint Paul, đang làm việc ở bệnh viện nên tôi thường ghé thăm. Cuối năm 1970 các cụ thần bốn đi qua Phi Luật Tân để được thụ phong linh mục do tay của chính Đức Giáo Hoàng Phaolô VI .

Năm đầu tiên ở Xuân Bích thật tuyệt diệu . Anh em trong trường, không phân biệt cụ già hay cụ non (theo kiểu nói của anh Nguyễn Văn Cấp, Quy Nhơn!), sống thân mật và bình đẳng. Tôi luôn nhớ ơn quý Cha giáo sư đã không bao giờ xa cách anh em, luôn sống gần và chia sẻ mọi nỗi ưu tư của cuộc sống tu trì và những mệt nhọc của thời gian huấn luyện.

Thấm thoát lại đến hè. Tôi lại về Nha Trang để chứng kiến một sự thay đổi lớn khác trong gia đình. Như đã nói trước, tình trạng kinh tế của gia đình không mấy khả quan nên năm đó ba tôi quyết định đem gia đình về lại Nha Trang. Căn nhà tại Xuân Ninh tạm để trống. Chúng tôi kéo nhau về ở tạm nhà ông bà Khanh Tân (ông bà đã đưa mẹ con tôi vào Nam năm 1955). Cảm tạ ông bà một lần nữa lại cưu mang gia đình chúng con trong lúc ngặt nghèo .

Cuối tháng 8 chúng tôi khăn gói trở lại Đại Chủng Viện. Lần này tâm trạng tôi có phần nặng nề hơn vì nghĩ đến hoàn cảnh chật vật của gia đình. Ba tôi nay đã về làm tại bưu điện. Các em tôi vẫn tiếp tục đi học dù gia đình đang lâm cảnh túng thiếu . Ba mẹ tôi phát xuất từ nguồn gốc nông dân, biển giả nên đã thấm thía cái cảnh thất học. Ngày từ thời còn trẻ, khi ông nội hỏi ý kiến về việc nên cho chú Hưởng đi học hay ở nhà phụ giúp trong công việc chài lưới, ba tôi đã khẳng khái thưa với ông : "Việc nhà để con lo . Thầy cho em đi học đi". Câu nói ấy tôi hằng tâm niệm bên lòng.

Xin mở ngoặc ở đây để cống hiến quý vị một giai thoại văn chương của dân biển chúng tôi . Cũng xin tha lỗi cho một chữ không được thanh cho lắm trong giai thoại nầy . Người đi biển thường nói đùa với người học trò:

"Chữ nghĩa văn chương không bằng (cái) xương cá lẹp!"

Cá lẹp là một loại cá trích, rất nhỏ và đúng như tên gọi, rất mỏng cho nên nếu đem cả túi văn chương so sánh với xương của nó thì thật là bất công và mỉa mai . Để đối lại người học trò tinh quái đã phán:

"Te te, lái lái không bằng (hòn) d... học trò!"

Te là tên một dụng cụ có hai càng mà người ta cầm lấy đẩy tấm lưới rà trên mặt đất hứng cá vào cái túi đàng sau. Lái là âm địa phương của vùng Nghệ Tĩnh chỉ cái lưới . Là dụng cụ tối quan trọng của người làm biển, một tấm lưới rộng ít là mười sải tay . Lại nữa, người dân biển cũng tỏ lòng kính trọng đối với tấm lưới: khi phơi lưới ở bãi biển, không ai được bước đi trên đó. Tôi còn thấy nhiều người khi vá lưới mệt mỏi, đã dùng nó đắp trên người như cái mền. Vậy mà chú học trò ngạo mạn đã cho nó không bằng của quý của mình thì thật là xấc xược! Nhưng dầu sao ta cũng phải thông cảm cho cái giận của chú: vất vả với đèn sách, mong sao có ngày rạng danh tổ tiên, thế mà nay bị sắp xuống hàng nhỏ hơn cái xương cá lẹp!

Nói như thế để chứng minh rằng người dân biển chúng tôi luôn luôn tỏ lòng trọng vọng đối với người có chữ nghĩa . Trong tâm tình ấy ba mẹ tôi đã hy sinh rất nhiều để cho con cái được học hành, không nhiều thì ít, miễn là không phải lâm vào cái cảnh thất học, mù chữ. Ba tôi đã nêu gương sáng ấy cho đàn con khi chính người cũng đã tự học, dù lớn tuổi, để lấy cho được mảnh bằng tiểu học. Suốt một năm gác đêm không lương tại tư gia ông Hiệu, Giám đốc Cảnh sát Nha Trang, ở đường Quang Trung (khoảng 1960), người đã miệt mài học hành dưới sự hướng dẫn của một người bạn và cuối cùng đã thành công. Sau này người còn học thêm tiếng Anh nữa . Chính ba tôi đã tự mình kèm tôi và các em khi còn ở bậc tiểu học.

Trở lại tâm trạng của tôi ở Huế năm 1971. Tôi đã chứng kiến cảnh gia đình tôi, toàn bộ 10 người, phải sống chen chúc trong nhà để củi của ông bà Khanh, sau này lại dọn qua nhà bếp của dượng dì Sĩ cùng chung với ông bà Phạm Long là dì dượng của mẹ tôi . Nỗi cùng cực ấy ám ảnh tôi suốt mấy tháng liền để rồi sau bao ngày suy nghĩ và bàn hỏi với cha linh hướng Mai Đức Vinh, tôi đã quyết định tạm về nhà một thời gian để kiếm thêm phụ giúp kinh tế cho gia đình. Lúc đó là dịp lễ quốc khánh 1/11/1971. Ba mẹ tôi không tỏ vẻ phản đối quyết định này vì ông bà biết rằng tôi đã lớn rồi (22 tuổi) và có quyền quyết định đời mình.

May mắn thay, chỉ không đầy một tháng sau tôi đã khăn gói lên đường vào Phan Thiết để nhận chức tổng giám thị trường Trung Học Tư Thục Chính Tâm ngay đầu cầu Trần Hưng Đạo của thành phố, thay cho thầy Cù Huy Hoàng.