Tuổi Thơ

Tôi sinh ra trong khung cảnh đầm ấm và tạm gọi là yên ổn của hai bên nội ngoại . Ngay từ những ngày tháng đầu tiên của cuộc đời, tôi đã được sự chăm sóc chu đáo và tận tình thương yêu của mọi người trong gia đình. Sinh trước tôi 20 ngày là người chú út nên vì lý do tiện lợi, tôi cũng chung vú bà nội với chú tôi.

Trong phần về quê hương tôi có viết là đã chào đời "khoảng" năm 1949 vì cho đến nay tôi vẫn chưa biết đích xác ngày, tháng, năm sinh của mình. Nhiều khi tôi tự an ủi: có lẽ mình giống thượng tế Melchizedek trong Cựu Ước, không ai biết nguồn gốc của ông (Gen 14:17-20; Heb 5:6). Lý do của tình trạng mập mờ này là thời đó, người dân trong làng không có giấy khai sinh hay giá thú riêng. Những giấy tờ này không cần thiết vì không có nhu cầu xuất trình. Tất cả mọi hồ sơ đều được lưu giữ trong nhà xứ của giáo họ.

Trong giấy tờ hiện tại, ngày sinh của tôi là ngày 20 tháng 9 năm 1950. Tôi đã tìm nhiều cách để biết đích xác ngày sinh của mình. Mấu chốt đầu tiên là ở mẹ tôi . Bà nói buổi sáng sau khi tôi sinh ra thì người ta đi lễ các Thánh. Điều đó có nghĩa là tôi sinh ra đúng ngày 1 tháng 11 là ngày Giáo Hội Công Giáo mừng kính tất cả các Thánh Nam Nữ và được chịu phép Rửa Tội 3 ngày sau đó tại nhà thờ Nữ Vương Bình An (Regina Pacis) tức là nhà thờ Lộc Thủy . Riêng năm sinh thì tôi đã có dịp kiểm chứng những người sinh cùng một năm (theo sự chỉ dẫn của mẹ tôi). Tất cả đều nói là chúng tôi sinh năm 1949. Còn 20 tháng 9 thì có lẽ là ngày âm lịch của ngày 1 tháng 11 năm đó chăng. Hy vọng những chi tiết trên chính xác để ít là tôi có một ngày sinh rõ ràng để nhớ và biết ơn các bậc sinh thành.

Còn tên của tôi thì sao ? Đây cũng là một chi tiết thú vị. Tên Nguyễn Quang Vinh của tôi bây giờ là tên thứ ba. Sau khi rửa tội do cha Thung tại nhà thờ Lộc Thủy, tôi mang tên thánh là Phêrô với tên gọi là Nguyễn Văn Hoàn. Ông nội tôi bảo bà nội là từ nay gọi cháu là Hoàn. Bà nội trả lời là tên khó đọc quá nên vẫn cứ gọi là Chắt. Tục lệ gọi một đứa bé là Chắt hay Cháu tùy theo khi sinh ra, ông bà cố hay ông bà nội ngoại còn sống không. Vì lúc đó bà cố nội và ông bà cố ngoại còn sống nên tôi đã được gọi là Chắt. Cái tên này đã theo tôi cho đến năm 1957 khi ở Phan Thiết, ba tôi quyết định đổi tên là Nguyễn Quang Vinh (có lẽ chú Hưởng của tôi muốn tỏ ý hoài niệm địa phận gốc của gia đình là địa phận Vinh). Cái tên Nguyễn Văn Hoàn cũng chịu chung số phận với ngày tháng sinh của tôi: mất theo giấy tờ tại nhà xứ đã bị tiêu hủy do chiến tranh và thời gian gây ra.

Tôi ở trong nhà ông bà nội tôi không lâu vì ba mẹ tôi được "ra riêng" ở ngoài một cái lều nhỏ cuối làng về phía sông. Nơi đó người ta gọi là trại ông Trâm Phú. Tôi còn nhớ mường tượng có một lần ì ạch đẩy chiếc xuồng nhỏ của ba tôi xuống bãi cát. Đó là hình ảnh độc nhất tôi còn sót lại trong tâm khảm trước khi ba tôi ra đi theo đoàn ghe vào miền Nam lúc tôi lên 1 tuổi rưỡi.

Mẹ tôi kể là lúc ấu thơ, tôi đỏ hồng, trong làng ai cũng khen đẹp và đòi bồng trên tay . Ba tôi (lúc đó kêu là bọ) thường để tôi ngồi trên vai ông và đi từ xóm trong (nhà ngoại) cho đến xóm ngoài (nhà nội).

Tuy bên ngoại làm thuốc Nam nổi tiếng nhưng tôi cũng đã không thoát khỏi bị những trận ốm thập tử nhất sinh. Đã có lần ba tôi đã chạy bộ ban đêm trên 10 cây số để mời cố Long ở dưới Trang lên Lộc Thủy chữa bệnh cho tôi . Cũng may là ba tôi vừa mới tập quân sự về, quen chạy bộ nên không có gì trục trặc. Tôi cũng bị một cái bướu to nằm dưới da ngay sau thắt lưng, to như trái cà chua . May mắn thay, có một ông y sĩ từ miền Nam về đã mổ ra . Bây giờ vẫn còn vết thẹo . Dĩ nhiên những điều trên và sau này đều do trí nhớ phi thường của mẹ tôi kể lại.

Vào giữa năm 1950, vì tình hình kinh tế, một số lớn gia đình của làng tôi cũng như các làng ven cửa Sót cùng những người ở cửa Nhượng (Nhượng Bạn) phía nam đã chạy thuyền vào Đồng Hới, Quảng Bình để làm ăn tạm thời . Trong số đó có ông nội và ba tôi và những người bạn trên ghe . Khi vào Đồng Hới, ba tôi đã bị xung vào quân đội Pháp. Ông nội tôi vì cô đơn và nhớ nhà nên đã theo ghe về lại Hà Tĩnh. Không lâu sau đó chú Hưởng, từ chủng viện Xã Đoài về nghỉ hè, cũng bị Pháp bắt lên tàu của họ làm nô dịch và sau đó thì đưa vào Nam.

Cũng vì hai việc này nên hai năm sau đó ông nội tôi đã bị bắt. Tôi còn nhớ rõ buổi sáng ông bị đưa đi dưới những cặp mắt lo âu, sợ sệt của tất cả mọi người trong nhà sau khi họ đã tra xét và lục soát nhà vì nghi ông nội liên lạc với địch. Khi hiệp định Genève ký kết ông đã về thăm nhà được 1 ngày . Sau đó vào khoảng năm 1960 ông đã chết và thân xác đã bị vùi lấp bên lề đường, chỗ tù nhân làm dân công. Sau 1975, chú út và cậu hai tôi cùng mấy người bà con đã đưa được hài cốt về chôn tại đất thánh của họ Lộc Thủy ở bên cồn Tân Lâm.

Những ngày sau đó thật là đầy gian khổ cho mẹ tôi cũng như gia đình bên nội, đặc biệt là bà nội tôi . Chồng và hai người con trai lớn đã ra đi, còn lại một người con dâu, hai đứa con gái khoảng 10 đến 12 tuổi và một con trai cũng như cháu nội còn nhỏ dại . Bà nội tôi và mẹ tôi (lúc đó đã bỏ căn lều ở trại ông Trâm) phải tảo tần hôm sớm để nuôi con và cháu . Tôi nhớ những buổi tối bà nội và mẹ tôi mua những con cá nục và cá trích nướng trước cái "cươi" (sân) nhà để sáng mai kịp đi chợ bán. Ngồi bên cạnh thế nào tôi cũng được vài con cá bị gãy . Thích nhất là cái mề của con cá đối con, đâm thành từng xâu, chấm muối ăn thật ngon. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn thèm!

Những ngày tuổi ấu thơ thật đẹp tuy cũng có những giờ phút nghẹt thở vì những trận bom của Pháp trải dài trong làng. Biết bao bữa cơm chiều không trọn vì phải chạy xuống hầm trú ẩn khi máy bay địch đến. Có lần nhảy xuống hố tôi đạp phải một con rắn hổ. May mà có chiếc chiếu lót giữa, không thì tôi đã mất mạng! Một ngày nọ máy bay đến khi người lớn đều đi vắng. Nhìn qua nhìn lại không thấy ai, tôi bắt đầu vừa đi vừa khóc dọc lên con đường ống cạnh nhà. Gọi là đường ống vì hai bên là tre phủ trên đầu như một con đường hầm. Tôi được một anh thanh niên (cu Bát?) bồng lên nhảy vào bụi tre để trốn, vừa kịp tránh lằn đạn của những chiếc máy bay khu trục điên cuồng đang tưới bom trên làng xóm vô tội . Sau khi về nhà thì cây dừa trước sân đã bị mất một miếng to bằng cái rá rửa chén. Những cây nứa dựng nơi hàng rào bị chặt làm đôi, con đường bờ sông bị cày lên như một đám ruộng! Tôi thoát chết như một phép lạ. Cho đến ngày nay tôi vẫn không bao giờ quên ơn người thanh niên đã cứu tôi .

Mẹ tôi cũng kể rằng có lần bà và chú Hưởng câu giữa sông, khi máy bay đến, đã phải nhảy ra xa khỏi xuồng và lặn dưới nước chờ cho máy bay đi rồi mới dám trồi lên! Trong thời kỳ chiến tranh lên cao độ (1952-1954) tất cả các sinh hoạt đều về đêm, ngay cả chợ búa .

Nói chung những thú tiêu khiển tuổi thơ của tôi thường là theo bạn bè dọc theo bờ sông, câu cá kìm nhọn mỏ mà mồi câu là những con ruồi hoặc đi theo người ta mót khoai nơi gò mụ Nàng. Mót thì chẳng được bao nhiêu nhưng đem về thì nhiều vì người ta thương hại bỏ vào rổ của tôi những củ khoai mập mạp. Cũng có lúc tôi theo cậu Hiếu chăn bò cho ông ngoại . Tôi nhớ có lần cậu ẩm tôi lên để trên lưng bò một mình. Dĩ nhiên là tôi té xuống ngay, nằm giữa bốn chân con bò!

Hằng năm khi đến mùa lụt, nước ngập tràn các đồng ruộng sau làng, tôi theo mẹ tôi đi bắt cá. Thật sự thì bắt chẳng được con nào nhưng là dịp chơi đùa thỏa thích với bạn bè cùng lứa . Tôi còn nhớ có một lần mẹ tôi đưa tôi ra sông rộng để câu cá trên chiếc xuồng nhỏ của nhà. Tôi không chịu nổi sóng to nên say sóng và được đưa lên thuyền của ông bà Chắt Tân, dì ruột mẹ tôi .

Việc học hành thì không được bao nhiêu . Ông bà nội có thuê một ông thầy về dạy cho chú út và tôi . Ông thầy tên Hạ. Mẹ tôi kể rằng khi thầy ăn cơm, chúng tôi lấp ló nhìn qua cửa và khi thấy thầy ăn một miếng cá to, chú tôi la to lên. Thế là cả hai bị một trận đòn đáng nhớ. Đàng sau làng có một ngôi trường nhưng hình như tôi không học được mấy chữ.