Tiểu Chủng Viện Sao Biển

(1961-1967)

Hè 1961, tôi thi đậu vào Tiểu Chủng Viện Sao Biển Nha Trang. Trước đó tôi không nghĩ đến chuyện đi tu như một lý tưởng dù có cha Trinh (+) thuộc chủng viện Kontum, có gia đình ở trong xứ, đến xin ba mẹ cho tôi lên Kon Tum, hay các cha Phanxicô trên dòng cũng khuyên tôi nhập dòng của họ. Tuy nhiên sau khi thi đậu tôi cũng mừng lắm vì có sự thay đổi và đi xa (cách nhà 2 cây số!).

Thế là tôi trở thành một chú chủng sinh, mặc áo dài thâm, quần trắng. Ngày vào chủng viện, 24 tháng 7 năm 1961, là một ngày nhộn nhịp, người đi qua, kẻ đi lại . Các chú lớp 7 thì có vẻ tự hào lắm vì nay đã có đàn em. Tôi nhận ra trong đám mới đến một anh bạn Ba Làng cùng lớp ở trường La San, Nguyễn Phú Quý. Một anh bạn cùng lớp Nhì với chúng tôi ở La San đã vào Chủng Viện trước chúng tôi một năm tên là Nguyễn Hữu Hoàng đang học lớp 7. Vì thế tôi không lấy làm bỡ ngỡ cho lắm, chả bù với các bạn khác từ Cái Sắn (Bồng), từ Sài Gòn (Định) hay Bình Tuy, Phan Thiết ra đây học, lạ người, lạ cảnh.

Thầy giám thị là Đào Trí Cầu, người Kim Ngọc, Phan Thiết. Thầy dáng người thấp, đen, đá banh rất giỏi, nhưng cũng nóng vô cùng. Thầy có cú rờ-ve rất nhanh, tránh không kịp: có lần thầy bạt tai một anh trong lớp tôi, vừa đi vừa đánh khoảng 20 thước! Sang đến năm thứ hai thầy về gia đình và đi lính rồi tử trận tại Thiện Giáo khoảng năm 1964. Thầy cũng dạy văn phạm Pháp và Việt văn. Thầy dạy Pháp Văn là Nguyễn Quang Thạnh (nay là linh mục ở Úc), Toán là thầy Lê Xuân Thượng (giám thị chú lớn) nay là Đức Ông ở Houston, Texas. Các cha Việt: Mai Khắc Cảnh (+), Nguyễn Quang Sách, Nguyễn Hữu Ban. Vì là chủng viện thuộc các cha Thừa Sai Ba lê (Missions Étrangères de Paris) nên cha Giám Đốc là cố Vị (Pierre Jeanningros), cha quản lý là cố Mollard (+), cha dạy Anh Văn là Lagrange, La Tinh và Toán cho mấy lớp lớn là cố Hồng (Clause). Những năm sau này thì có thêm các linh mục và thầy giảng khác. Về linh mục thì có: (xin miễn dùng tước hiệu linh mục) Nguyễn Lộc Huệ, Nguyễn Thạch Ngọc, Jean Hirigoyen (cố Hương), Michel Gervier (cố Lành), Nguyễn Công Phú, Hoàng Kim Đạt, Nguyễn Công Nghị (Giám Đốc), cố Pouclet, Charles Nédélec (cố Đề), Pierre Larroque, Lê Xuân Hoa, Trần Sơn Bích, Hồ Ngọc Hạnh (Giám Đốc), Mai Đức Vinh, Nguyễn Văn Hiền. Các thầy thì có: Nguyễn Minh Thế, Nguyễn Cao Cầu (+), Trần Thanh Phong, Trần Ngọc Bửu (Bẩm +), Tín, Nhân, Thiện, Hoà, Xin, Tạc, Thành và Huy, làm thơ rất hay .

Tôi không thể kể ra đây hết chi tiết về cuộc sống tại Tiểu Chủng Viện Sao Biển vì sẽ rất dài . Chỉ xin tóm lại một vài trang. Cuộc đời chủng sinh là kỶ niệm đẹp nhất trong một đời, dù sau này có "về lại thế gian" hay tiếp tục đến cùng. Các cha, các thầy và các xơ nhà bếp là những đại ân nhân của chúng tôi trên con đường tu học. Công ơn trời bể không bao giờ quên. Riêng các bạn đồng môn, lớp trên hay lớp dưới, cũng là một phần trong cuộc đời của tôi, nhất là các bạn cùng lớp mà người ra đi về nước Chúa đầu tiên là Hồ Xuân Lương (Bình Tuy). Lương mất năm 1968 tại Huế, trong biến cố Mậu Thân mà tôi sẽ kể sau này . Lớp chúng tôi có cả thảy là 41 người, trong đó có hai anh thuộc dân tộc thiểu số (Thượng) do địa phận Kon Tum gởi xuống, Hlan và Lợ Tôi vẫn còn nhớ tên đủ cả và có cả những tấm hình chụp chung trong chủng viện từ lớp Huitième cho đến lớp Troisième .

Tuy là chủng sinh, nhưng cũng là những cậu bé mới lớn, tràn đầy sức sống, nên chúng tôi cũng nghịch ngợm như bao trẻ khác. Hai năm đầu đã có hai tai nạn. Chiều Chúa nhật và chiều thứ tư, chúng tôi đi promenade (đi dạo) ra ngoài . Dĩ nhiên là phải đi trong hàng, có trật tự dưới sự kiểm soát của thầy giám thị. Năm ấy (1962) chúng tôi leo lên ngọn núi trước mặt Cô Nhi Viện Tin Lành. Khi xuống, Đạt, một thủ môn của lớp, đã trợt chân, lăn từ đỉnh núi xuống, dọc theo đường thả đá của các thợ đục đá. Cũng may nhờ Đạt lanh trí cuộn tròn người lại nên chỉ bị gãy chân thôi . Hè năm đó Đạt ở lại chủng viện để ông thầy sửa gân trên Hà Dừa (Ba Thăm) chữa trị. Năm sau Đạt về gia đình. Không lâu sau đó, Huờn (Hộ Diêm) đã bị gãy chân do một chủng sinh Thượng, Kêu, đá trúng chân.

Học lực của tôi trong thời gian ở Sao Biển thuộc vào hạng trên trung bình, nhất là sinh ngữ và La Tinh. Đó cũng là nhờ hai năm ở tiểu học La San và mấy tháng hè học La Tinh do chú tôi kèm. Nhờ thế ba mẹ tôi khỏi phải lo lắng gì về việc học của tôi .

Lỗi lầm mà chúng tôi hay phạm nhất là đánh nhau hay hái trộm dừa để rồi bị quỳ nhà cơm, ăn cơm muối . Tôi chỉ bị phạt đánh đòn một lần năm lên lớp 6 khi đánh lộn với anh Nguyễn Văn Cường (lớp 5) vì chuyện đôi dép anh ta liệng lên xà nhà bắt tôi phải leo lên lấy . Kỳ dư, tôi cũng thuộc loại bình thường, không xuất sắc mà cũng không tệ cho lắm. Đạo đức thì không mang tiếng là " Nhất quỶ nhì ma, thứ ba các chú" mà cũng không được tiếng là thánh như anh Trần Khánh Thành cùng lớp.

Thời gian này Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam đã bắt đầu áp dụng những thay đổi lớn sau Công Đồng Vatican thứ hai (1962-1965). Toàn chủng viện hân hoan đón nhận những canh tân do Công Đồng mang lại . Cha Gérard Gagnon (+), dòng Chúa Cứu Thế, giảng cấm phòng năm 1963, đã sửa soạn cho chúng tôi rất nhiều về những tài liệu mà công đồng sẽ ra sau đó. Trước kia chúng tôi dự thánh lễ bằng Latinh, hát Latinh, ... Nay mọi sự bằng tiếng Việt và cha chủ tế thì quay mặt về phía giáo dân. Song song với những thay đổi đại thể đó, quyền điều hành chủng viện nay đã trao qua cho hàng giáo sĩ bản xứ.

Linh mục Giuse Nguyễn Công Nghị là giám đốc Việt Nam tiên khởi . Việc đầu tiên của ngài là bỏ ái dài đen để thay vào đó là quần tây xanh, áo sơ-mi trắng (1964). Tôi còn nhớ buổi sáng hôm đó, ai cũng nô nức sắp hàng vào nhà nguyện với bộ y phục mới, có biết đâu rằng đó là giây phút lịch sử của chủng viện: thật sự chuyển mình bước qua một giai đoạn mới, giai đoạn tự lập về nhân sự cũng như về phong thái trong chủng viện. Tiếc là không còn chiếc áo dài nào để làm kỶ niệm!

Năm 1966, địa phận mang một tang lớn là Đức Cha Marcel Piquet, MEP, qua đời . Giáo phận trống ngôi khoảng một năm. Sau đó Cha Phanxicô Nguyễn Văn Thuận thuộc địa phận Huế, được tấn phong Giám Mục Việt Nam tiên khởi của địa phận Nha Trang (1967).

Sáu năm ở Tiểu Chủng Viện Sao Biển đã đào tạo tôi thành một chủng sinh chững chạc hơn. Nhưng có một nỗi buồn là cả lớp chỉ còn lại có 11 người thôi . Nhiều anh em đã vào quân ngũ, có người tiếp tục lên đại học. Nói chung thì hầu như ai cũng gặp dễ dàng trên đường học vấn nhờ vốn liếng thu lượm ở Chủng Viện, dù là một năm hay nhiều hơn. Được như thế là nhờ ban giám đốc kèm rất ngặt, thi cử hằng tuần, học hành có giờ giấc và làm bài, trả bài hằng ngày . Nhiều lần chúng tôi cảm thấy hơi bất mãn vì quá thiên về sách vở, nhồi sọ nhiều mà quên đi những khả năng phụ thuộc khác của cá nhân như thơ phú, âm nhạc, ...

Sự bất mãn nầy đã một lần bùng nổ trong một đêm giáng sinh năm 1965 khi một chủng sinh trên tôi hai lớp đọc một bài diễn văn nẩy lửa (nóng hơn đống lửa chúng tôi ngồi chúng quanh!) yêu cầu ban giám đốc cho học thêm về âm nhạc, trình diễn văn nghệ, ... Nói đúng ra thì chúng tôi vẫn được học đờn harmonium nếu xin phép. Ngay cả chính người đọc diễn văn trên cũng rất giỏi đàn trong chủng viện và sau này trở nên một nhạc sĩ. Thế nhưng bây giờ nghĩ lại, nhất là ở tại quốc gia nói tiếng Anh nầy, tôi không khỏi cảm ơn các cha, các thầy đã dày công dạy dỗ chúng tôi về đường học vấn. Không có các ngài, sự dễ dàng khi xử dụng tiếng Pháp và tiếng Anh của chúng tôi chắc không được như hôm nay . Có một điều tôi vẫn còn ao ước trong lòng là được dâng một thánh lễ long trọng bằng tiếng Latinh là cổ ngữ tôi thích nhất. Khi bắt đầu học tiếng Latinh, chắc chắn trong đầu óc nhỏ bé của mình, tôi đã mường tượng ra cảnh ngày sau khi làm linh mục, tôi sẽ dâng thánh lễ bằng văn tự chính nầy của Giáo Hội, chứ không nghĩ là sẽ cử hành bằng tiếng Việt. Không phải tôi hoài cổ nhưng là muốn trọn vẹn cái mơ ước của tuổi thơ thôi . Ước mong sẽ có dịp.
Cuộc sống tu trì qua nhanh cho đến ngày thi trung học Pháp Brevet (BEPC) tại Collège de Nha Trang. Tôi đậu liền, khỏi vào oral. Sau khi nghỉ hè, lớp chúng tôi được Đức Tân Giám Mục gởi ra học tiếp 3 năm cuối của chương trình trung học Pháp (seconde, première, terminales) tại Trung Học Tư Thục Thiên Hựu, Huế (Institut de la Providence).

Nay nói lại về gia đình. Năm 1963 gia đình tôi đã dọn nhà từ xóm Hà Tĩnh qua sát chỗ Tháp Bà. Ba tôi mua được một miếng đất rộng. Lần đầu tiên chúng tôi có một mảnh vườn rộng rãi trồng đầy hoa quả, nhất là sa-bô-chê và đu đủ. Lúc đó khu xóm này chưa có ai đến ở nên phong cảnh thật yên tĩnh và mát mẻ. Mãi sau này, nhiều người từ ngoài đảo Đầm Vân vào nên sinh hoạt có phần náo nhiệt hơn.

Ba tôi đã gia nhập ngành cảnh sát từ năm 1960. Sau này vì có lệnh di chuyển nha Cảnh Sát Trung Nguyên Trung Phần lên Pleiku nên buộc lòng ba tôi phải xin chuyển vào làm việc tại thị trấn Ba Ngòi, Cam Ranh (1967). Lúc này gia đình tôi đã thêm số. Người con gái thứ hai, Nguyễn Thị Minh Yến, sinh năm 1958, Nguyễn Thị Minh Thanh (1960-1987), Nguyễn Quang Cảnh (1962), Nguyễn Quang Dũng (1965), Nguyễn Quang Hải (1967). Cảnh gia đình lúc ấy rất là túng bấn vì đồng lương ba tôi chẳng bao nhiêu, con cái lại đông. Mẹ tôi thì bị đau xương sống thường xuyên do bị té từ năm 1957 nên chỉ làm việc nhẹ thôi.