Quê Hương

Chầu Lượt 1995

Trước tiên, xin viết lên đây vài nét sơ qua về Hà Tĩnh. Có lẽ tên của cái tỉnh phía bắc miền Trung nầy có nghĩa là sự yên tĩnh của sông nước. Nó diễn tả cái thi vị của những dòng sông nổi tiếng của Hà Tĩnh: sông La, sông Lam, sông Nghèn, sông Hạ Vàng ... với những ngọn núi trải dài theo hình dáng của bản đồ hay trải ngang, in hình trên làn nước lặng tờ vào hè hay cuồn cuộn sóng khi thiên nhiên nổi giận vào những ngày mưa gió não nùng. Quê hương Hà Tĩnh đã sản xuất nhiều danh nhân liệt sĩ, những văn nhân thi hào cho đất nước Việt Nam: Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan Đình Phùng, vv... "Đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh", là những câu đầu của một nhạc phẩm nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, nói lên nỗi lòng của những người con tha thiết gắn bó với mảnh đất cằn cỗi nhưng đầy quyến rũ này .

Trong một góc đất cách thị xã Hà Tĩnh 7 cây số về phía Bắc, làng Lộc Thủy khiêm tốn nằm trên sông Voọc Sim, một nhánh nhỏ của sông Nghèn, (trước khi nhập chung với sông Hạ Vàng (Hạ Hoàng) chảy ra cửa Sót, là nơi tôi được diễm phúc chào đời vào khoảng năm 1949. Trước mặt Lộc Thủy, ngay bên kia sông là cồn Tân Lâm, nơi chúng tôi qua bao đời vẫn gánh nước về uống. Làng chúng tôi đất thịt và nước mặn nên không có nước uống, đúng như câu đầu một bài hát của nhạc sĩ tiền chiến Vũ Hòa Thanh:

"Quê hương anh nước mặn đồng chua,
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá."

Muốn qua Tân Lâm, phải dùng một cái cầu khỉ, chỉ có một cây tre thôi. Cầu này ngày xưa nằm ngay trước nhà ông bà ngoại tôi, nhưng nay đã mất rồi . Tân Lâm cũng là nơi an nghỉ của tất cả những người quá cố trong làng.

Đi xa hơn về phía đông nam, là làng An Nhiên và Vạn Hạnh, một xứ lớn. Cha xứ Vạn Hạnh cũng là Hạt Trưởng của vùng. Phía Tây Bắc là Đàn Hộ, Đàn Chế. Làng tôi cách đường quốc lộ khoảng gần 1 cây số, ngay chỗ đi xuống làng là cầu Nga .

Làng Lộc Thủy gồm có hai nhóm người . Nhóm thứ nhất, Lộc Thủy, là những gia đình lập nghiệp trên đất liền bên bờ sông (ăn lộc của nước?). Nhóm thứ hai, Lạc Thủy (vui với nước?), là những gia đình sống trên những chiếc thuyền quanh năm ở dưới cửa biển. Mọi sinh hoạt nghề nghiệp cũng như tôn giáo đều ở các xứ dưới đó (gọi chung là Trang): Kim Đôi, Trung Nghĩa, Trung Cự. Những người trên bờ gọi những người dưới ghe là bồ-lô (không biết nguồn gốc từ đâu ra). Chỉ trong những ngày lễ tiết đặc biệt của xứ mẹ như Chầu Lượt, lễ Bổn Mạng Đức Mẹ Lên Trời họ mới lên "Vọọc", một tên khác của Lộc Thủy . Ngay cả những ngày Tết nhiều khi họ ở luôn dưới đó cho tiện đường ra biển làm ăn. Mối dây thân tình giữa Lộc Thủy và 3 xứ đó rất sâu đậm. Hầu như ai cũng quen biết nhau . Gia tộc của ông bà nội tôi vẫn còn có anh em ở dưới đó.