Nha Trang, Quê Hương Thứ Hai

Xem Bản đồ Thành Phố Nha Trang


Sau mấy ngày lênh đênh trên chiếc tàu chở người di cư từ Đà Nẵng vào, chúng tôi cập bến Cầu Đá, Nha Trang.

Mẹ tôi được một người dẫn đường kêu xe ngựa về chợ Đầm và từ đó tiếp tục đi về Xóm Bóng, ngoại ô phía bắc thành phố. Trời nắng chang chang, hai mẹ con đi bộ lên đến dốc nhà Dòng Phanxicô hỏi thăm. May mắn thay chúng tôi gặp ông Tâm, người Trung Nghĩa (?) và hỏi thăm. Ông bảo chúng tôi quay lại về Tháp Bà, vào trong một cái xóm bên kia ruộng sát đường quốc lộ. Thế là cuối cùng hai mẹ con chúng tôi đã thật sự đến nơi mà tôi nhận làm quê hương thứ hai cho cuộc đời .

Ba tôi lúc đó vừa giải ngũ về, lao động mệt nhọc nên nhà cửa rất đơn sơ và nghèo nàn. Ông làm phu xúc đá cho một người thầu khoán (ông Châu) bên kia cầu Hà ra . Công việc thật nặng nhọc. Nhiều đêm mẹ tôi phải phục dược đổ cháo cho ông ăn. Lúc ấy ba tôi có một người con nuôi tên là Đồng học nghề thợ mộc bên Hà ra . Sau này anh đã ra đi biệt tăm. Trong xóm Hà Tĩnh nầy, có khoảng 20 gia đình, hầu hết thuộc nhóm bồ-lô, đã cùng đi với đoàn vào Đồng Hới năm xưa .

Tôi bắt đầu đến trường Tiểu Học Cù Lao sát ngay nhà để học. Lúc ấy chú Hưởng đã lên Blao (Bảo Lộc) để vào lại Chủng Viện Tân Thanh (địa phận Thanh Hoá). Mỗi hè chú đều về và dạy bổ túc cho tôi và bạn cùng tuổi trong xóm. Tuổi thơ có nhiều nghịch ngợm nên tai nạn cũng không ít. Tai nạn đầu tiên tôi gặp phải là bị té xe đạp. Anh nuôi tôi chở tôi đàng sau chiếc xe đạp của ba tôi và xổ dốc về phía nhà bà Hạp (có giếng nước). Vì đường đầy đá nhỏ nên chúng tôi bị té và tôi bị thương ở trên mí mắt phải, máu chảy dầm dề, làm cho mẹ tôi một phen kinh hoàng. Cái thẹo vẫn còn trên mắt.

Tuy có người dạy hè nhưng học lực của tôi lúc đó thuộc lại bình thường. Trong thời gian học ở Cù Lao tôi gặp thêm một tai nạn khác, lần này do mình gây ra . Sát bên cạnh nhà trường có vườn ổi của nhà ông cai Nhường. Một bữa trong giờ chơi, tôi và mấy đứa bạn chui qua hàng rào nhà ông ăn trộm ổi . Không biết là được trái nào chưa nhưng tiếng trống vào lớp đã vang lên. Chúng tôi lật đật chui về trường và tôi đã bị kẽm gai móc vào bắp chân, rạch một đường dài lên phía lắc lè (phần sau của đầu gối). Máu ra lênh láng nhưng tôi cũng đủ sức chạy về nhà băng bó. Không biết là sau đó có bị đòn hay không nhưng đủ để nhớ đời .

Năm đầu tiên, lớp Năm, thầy giáo mà tôi nay đã quên tên, rất là nghiêm. Cái roi đập lên bàn không ngừng để nhắc nhở lũ trẻ chúng tôi trở về trật tự. Trong những năm chiến tranh, việc học bị đình trệ nên lúc ấy tôi có nhiều bạn cùng lớp hơn tôi đến 3, 4 tuổi .

Sang năm lớp Tư thì thầy giáo Việt (Xóm Bóng) dạy chúng tôi . Ông có hai người con gái cùng lớp với tôi: Nhung và Vân. Năm lớp ba chúng tôi được thầy Lương Tắc, chợ Đầm, Nha Trang làm thầy giáo . Cuối năm đó tôi chuyển lên trường Tiểu Học La San trên đồi .

Tuy chỉ học có ba năm nhưng vì gần nhà nên trường Tiểu Học Cù Lao đã chiếm một chỗ quan trọng trong trái tim tôi với những cây bàng lúc đó còn nhỏ rải khắp sân trường thật đẹp. Buổi trưa những ngày nghỉ chúng tôi thường trở lại trường để chơi đùa, đá banh, chơi cút bắt, đánh bi . Hiên trường rộng rãi nên cũng là nơi chúng tôi tha hồ chạy nhảy, đánh đáo, chơi bi khi trời mưa . Đó cũng là một nơi ngủ trưa lý tưởng. Sau trường có sân đá banh và một bãi cỏ mịn. Bên cạnh đó là một bãi tha ma nên chúng tôi không bao giờ dám bén mãng đến trường ban đêm.

Năm 1996, tôi có ghé thăm trường. Những cây bàng nay đã già cỗi, tong teo như những bộ xương khộ Mái trường cũng đã tả tơi như một miếng giẻ rách. Ra khỏi trường tôi nghĩ đến bài thơ "Thăng Long thành hoài cổ" của bà Huyện Thanh Quan mà thương cho ngôi trường cũ:

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương."

Tôi đã hưởng được những năm thật thanh bình. Bây giờ nghĩ lại thấy còn tiếc nuối . Đêm là thời điểm của một ngày mà chúng tôi thích nhất vì hầu như những trò chơi như cút bắt, u mọi đều được tổ chức sau kinh tối, nhất là những đêm trăng sáng. Cũng có những buổi tối ông Huệ tụ họp chúng tôi lại để kể truyện hay tập hát những bài trẻ thơ mà tôi nhớ nhất là bài "Thằng Cuội" (Bóng trăng trắng ngà ...) hay bài "Tiếng Dân Chài" (Đêm dâng với ngọn triều ...). Kể sao cho hết bầu khí thanh bình hạnh phúc của những năm tháng không một tiếng súng, nhà nhà đều để cửa mở, không trộm cướp, không chiến tranh.

Thời gian này những sinh hoạt tôn giáo đều ở trên dòng Phanxicộ Chúng tôi tham dự thánh lễ ở gian trước nhà nguyện, còn các cha, các thầy và đệ tử thì ở phía sau cung thánh. Con đường đi lên nhà dòng, nhất là ban đêm, có nhiều chuyện kể về ma hiện, nhất là ở chỗ bụi cây lớn ngay cổng phường Vĩnh Phước bây giờ. Tai nạn xe đạp tại cuối dốc cũng không hiếm. Ở giữa dốc là Lạc Thiện, nơi những người bệnh trong vùng lên chữa trị. Có lẽ đó là nhà thương thí đầu tiên của Nha Trang. Người y tá lâu năm nhất là chú Nhơn mà tất cả những người cùng tuổi với tôi hay nhỏ hơn một chút vẫn mang ơn vì chú dạy giáo lý cho chúng tôi cùng với những thầy cô khác.

Nhà thờ Antôn Vĩnh Phước

Cha xứ đầu tiên của họ Cù Lao là cha già đáng kính Alix Bourgeois, dòng Phanxicô. Cha thật là một ông thánh sống. Nhóm dân di cư chúng tôi đã được Cha đặc biệt lo lắng giúp đỡ và dành cho chúng tôi nhiều đồ viện trợ trong những năm đầu ở đó. Cho đến bây giờ người dân Phật Giáo ở Xóm Bóng còn nhớ đến ông cha Tây ngày nào cũng dắt chiếc xe đạp đi thăm người nghèo, kẻ bệnh tật. Ai cũng chạy đến Cha một khi lâm cơn túng thiếu, không phân biệt lương giáo . Nhiều khi Cha cho người lương tiền mà không cho bổn đạo của mình vì ngài nói là mấy người có đạo đem tiền về đánh bạc hết (?). Hễ ai bệnh thì Cha bảo là ăn rau muống nhiều thì sẽ lành. Cha luôn khuyến khích tôi trên con đường tu đức và luôn nhắc nhở tôi là đừng bao giờ kiêu ngạo .

Hy vọng giáo xứ Vĩnh Phước tìm cách nào đó để tỏ lòng biết ơn vị tổ phụ của giáo xứ. Riêng tôi thì chắc chắn không bao giờ quên vị cha già đáng kính của tuổi thơ và của những năm đầu làm chủng sinh.

Sau này nhà thờ được xây ở bên quốc lộ trong một khuôn đất mà một nửa do nhóm các gia đình Hà Tĩnh nhường vì chúng tôi không ở. Nhà thờ đó nay là nhà dòng Phanxicô sau khi nhà nước trưng dụng tu viện lớn trên đồi .

Việc học của tôi bị gián đoạn một thời gian khi năm 1957 gia đình dọn vào Phan Thiết. Lúc ấy ba tôi không có việc làm nên phải đưa gia đình vào đó đi biển cho một ông anh họ (Chắt Linh) ở xóm Cồn Chà. Gia đình tôi ở Vinh Phú (bên này sông), trọ nhà bác Hồng (em ruột ông Chắt Linh) trên xóm Động.

Lúc này tôi đã có một người em gái được một tuổi, Phượng. Em sinh vào tháng 6, mùa hoa phượng nở nên chú tôi đặt tên là Minh Phượng. Thời gian ở Phan Thiết tôi được xưng tội và rước lễ lần đầu tại nhà thờ Vinh Phú. Sau đó tôi lại phải về Nha Trang một mình để tiếp tục học trường Cù Lao . Thời gian xa gia đình lần đầu tiên này đã sửa soạn cho những lần xa nhà tiếp sau và cả đến bây giờ.

Tôi ở trọ nhà ông bà Huệ - Chiên một thời gian cho đến khi gia đình tôi về lại Nha Trang. Lý do là vùng biển Phan Thiết quá nguy hiểm, đã cướp mất mạng sống của một ông bác họ (bác Tam). Lại nữa nghề biển lúc đó cũng túng thiếu nên ba tôi quyết định đem vợ con về. Cũng chính ở Phan Thiết tôi được đặt tên lại là Nguyễn Quang Vinh. Tiếc là không còn nhớ phản ứng của tôi khi mình được đổi tên mới .

Sang đến năm lớp Nhì (lớp Bốn bây giờ) năm 1959, tôi được ba mẹ cho lên trường La San. Tôi không phải ngỡ ngàng với bạn bè mới cho lắm vì đa số cùng ở trong xứ đạo . Lần đầu tiên được tiếp cận với các phe La San (Frères de la Salle), tôi cũng hơi ngán. Nhưng sư huynh Vénard Vân dạy lớp tôi thật là hiền lành. Sư huynh dáng người trắng trẻo như con gái nhưng rất nghiêm nghị. Bạn đồng lớp của tôi đến từ Nha Trang (Thanh lai, Phước lai, Long) hay từ Gò Dê (Liễu đen, Quới, Giới, Hiến lé, Lực, Đơn...). Những người bạn "Gò Dơ" này làm tôi cảm phục lắm vì tính hiếu học. Nhiều bữa đi học về trễ vì ham chơi, không có xuồng qua đảo đành phải cởi quần áo đội lên đầu cùng với sách vở, lội về nhà chỉ với đôi chân đạp nước thôi . Họ cũng chơi bóng chuyền và đá banh giỏi lắm. Tôi thì không thạo về những môn này như họ. Chỉ có sau này lên lớp Nhất tôi chơi bóng rổ có phần nhanh nhẹn hơn dưới sự hướng dẫn của sư huynh Francois Nghi . Nhưng tôi không bao giờ được vào đội bóng của trường đi đấu các nơi . Cũng có một số bạn bè từ Thanh Hải, Ba Làng lên học (Thanh, Quý, ...). Một số đã ra đi thật sớm như Thanh lai, chết khi tắm ở bãi biển Nha Trang vào khoảng năm 1962 hay Hiến, Liễu, Trần Hữu Cầu, ... đặc biệt là hải quân trung úy Lê Văn Đơn (toán Hải kích), gốc Gò Dê, tử trận khi bảo vệ mảnh đất Hoàng Sa Sa trước sự tấn công của lính Trung Cộng vào ngày 19.1.1974 (xem bài văn tế)

Học lực của tôi có phần khá hơn hồi còn ở trường Cù Lao, nhất là Pháp ngữ. Cuối năm lớp Nhì tôi đứng thứ hai trong lớp, được lãnh một cái đờn mandoline tại rạp chiếu bóng Tân Tân, Nha Trang. Buổi lễ phát thưởng được tổ chức cho tất cả các trường La San trong thành phố nên rất đông người . Từ cuối rạp tôi đi lên một mình, run run muốn nghiêng một bên nhưng trong lòng hãnh diện vô cùng. Sau này vì nhà hết tiền nên tôi đành bán cây đàn ấy cho ông Huy, một nhạc sĩ dưới xóm Bóng. Có lẽ do cái việc đành đoạn này mà nữ thần âm nhạc hận tôi vì từ đó về sau tôi không khá mấy trong ngành âm nhạc, đàn cũng như hát!

Sang đến năm cuối Tiểu Học, sư huynh Francois Nghi làm thầy giáo . Tôi được vào đội Nghĩa Sinh của dòng, gồm các em học sinh của những trường tiểu học do dòng điều khiển và đầu năm 1961 tôi được đi dự Đại hội Nghĩa Sinh toàn quốc tại trường Bá Ninh, Nha Trang. Lần đầu tiên tôi lên sân khấu diễn kịch trong những ngày đó nhưng vẫn còn rụt rè và ngớ ngẩn như chú Cuội!

Sư huynh Nghi rất nghiêm và nóng tính. Chúng tôi thường bị chửi là đồ ngu một khi sư huynh nổi nóng! Lâu lâu cũng bị vài cái bạt tai . Nhưng chúng tôi vẫn luôn một lòng kính trọng và thương yêu vị thầy khả kính. Sư huynh cũng có làm một sân cờ tí hon trên bàn, có cỏ xanh (do mạ lúa) và quốc kỳ thật đẹp. Sư huynh cũng giúp lớp tổ chức triển lãm bướm. Suốt cả tháng chúng tôi lặn lội khắp rừng núi bắt cho được những con bướm lạ về chích thuốc formol rồi phơi khô để trưng bày .

Đó cũng là thời gian tôi hay đi phiên lưu khắp đồi núi, không để mơ mộng nhưng vui chơi và khám phá. Vùng phía bắc thành phố Nha Trang trùng trùng điệp điệp những phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ và đa sắc đa diện, từ biển xanh đến đồi núi, từ hòn nhỏ đến đảo lớn. Đèo Rù Rì với dãy núi "Em nằm xoả tóc" về phía bắc như án ngữ chận cơn gió bấc vào, giữ cho thành phố luôn mát mẻ mùa hè, ấm áp mùa đông.