Những Khuôn Mặt Quan Trọng Trong Cuộc Đời

Bất cứ ai sinh ra trên mặt đất này đều có những người đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời của họ. Cuộc đời của tôi cho đến bây giờ đã chịu ơn biết bao người và ngược lại chắc cũng đã ảnh hưởng một số không ít. Nay xin được viết lên đây một vài khuôn mặt mà nếu không có những vị ấy, tôi đã không được như ngày hôm nay.

Song Thân


Dĩ nhiên đặt lên trên hàng đầu danh sách phải là cha mẹ tôi và qua cha mẹ tôi là ông bà tổ tiên và họ hàng ruột thịt thân thương.

(Xem Bài Thơ Tình Cha) Ba tôi là một người cha gương mẫu về mọi mặt. Ông đã hy sinh rất nhiều cho gia đình mình, không quản ngại mưa nắng, gió sương để giúp ông nội tôi trong nghề biển giả. Phải sống trong cái nghiệp làm biển mới thấm thía nỗi cực nhọc của con người suốt ngày phải đấu sức cùng biển khơi, vật lộn với sóng gió trên con thuyền mỏng manh, có thể chìm bất cứ lúc nào . Người làm nghề te ruốc còn phải ngâm mình suốt đêm dưới làn nước lạnh để giữ te, đuổi ruốc. Mưa nắng cũng là một yếu tố làm cho người đi biển luôn mang một hình hài khắc khổ, một tinh thần nhiều khi không ổn định. Công việc đồng áng, tuy có vất vả với thời tiết, đất đai, nhưng vẫn còn tương đối thong dong hơn những người làm nghề biển. Ngay từ lúc thanh niên, ba tôi đã phải chứng kiến cảnh một người chị bị sóng cuốn mất tích ngoài đảo khi bị một cơn bão lớn nhận chìm thuyền. Sau này ở Phan Thiết, ông đã phải đương đầu với những cơn sóng kinh hồn ở cửa biển Cồn Chà, nơi đã từng chôn thây một người anh con ông bác ruột của ba tôi . Nói sao cho xiết những đày đọa, những gian truân, những hiểm nguy của kiếp ngư phủ ở Việt Nam. Ba tôi đã từng bị cái trục dài của bánh lái xoắn vào tay áo, rứt thịt ra đến tận xương.

Khi lập gia đình, tưởng là hưởng được cảnh êm ấm của một mái nhà, ba tôi lại phải ra đi vào trong Nam để kiếm kế sinh nhai . Có ngờ đâu đó cũng là lúc ly biệt. Chắc chắn những đêm nằm ngoài trận địa, ba tôi đã đau khổ khôn cùng, khi nhớ gia đình và vợ con còn ở lại bên kia vỸ tuyến. Nỗi nhớ không ray rứt bằng niềm hối hận đã ra đi không một lời giã biệt. Những lúc nghe tin quê hương, làng xóm bị máy bay Pháp cày nát, ruột gan ba tôi tưởng chừng như tan nát.

Thiên Chúa đã thương gia đình tôi cách riêng khi đem mẹ con tôi vào đoàn tụ với ba tôi bình yên. Thế nhưng, những gian khổ về cuộc sống cũng không bao giờ buông tha . Ba tôi đã vất vả kiếm ăn để lo cho con cái được học hành nên người . Như đã nói trên, ba tôi đã lo tự học để tiến thân hơn một chút trong nghề nghiệp, làm gương cho con cái sau này . Ông còn là một lực sĩ chạy bộ nên thân thể cường tráng, ít khi bệnh. Ngoài ra ba tôi cũng khéo tay và giỏi tính toán, nhất là vấn đề làm nhà, làm cửa . Nghề tay trái của ông là làm vườn nhờ mấy năm làm phụ trên dòng Phanxicô: những vườn cây đu đủ, mít, sabôchê, ... nhất nhất đều do một tay ba tôi gầy dựng nên. Tiếc là ngày nay không còn để hưởng.

Một trong những điểm mà tôi phục nhất nơi ba tôi là cảm tình thương yêu và kính trọng đối với mẹ tôi . Ba lần chia ly với mẹ đã làm cho ba tôi đau khổ vô cùng. Sau này, dù đã qua My? ông cũng luôn luôn nhớ đến mẹ tôi đang còn kẹt bên đó. Mọi việc trong nhà ông luôn luôn để mẹ tôi quyết định. Bất cứ việc gì to nhỏ, ông luôn bàn hỏi và thường là theo ý kiến của mẹ tôi . Ước mong đây là tấm gương sáng để cho các em noi theo .

Bây giờ khi viết những giòng chữ này, tôi chợt nhận ra là trong những năm sau 1975, ông đã cố gắng làm việc vất vả, thậm chí quên hết những gì chung quanh, để chôn sâu trong lòng một nỗi đau khổ không thể nói ra . Tâm sự nầy tôi chỉ nghiệm ra được trong giờ phút hồi tưởng nầy nhưng trong những ngày tháng ấy, khi làm việc bên cạnh người cha thân yêu, anh em chúng tôi đã vô tình không hiểu và cũng vì thế đã làm phiền người cha gương mẫu và can đảm rất nhiều . Xin ba tha thứ cho anh em chúng con.

Một trong những kỷ niệm sâu đậm mà tôi còn nhớ là vào một buổi chiều cuối năm nọ, trời gió thổi mạnh, bốn mẹ con chúng tôi qua ty Thông Tin, Nha Trang để gặp mặt ba tôi đang trong thời gian tập huấn tại Dục MỸ nên không về ăn Tết được. Tôi không nhớ là ba tôi đã báo tin như thế nào để gọi mẹ con qua gặp mặt. Lần đó, tôi thấy ba tôi đen sạm và gầy ốm nhưng rất vui vì được gặp vợ con ít là trong ngày cuối năm.

Riêng mẹ tôi thì trong các anh em, tôi là người gần gũi nhất vì những ngày tháng mẹ con côi cút ngoài quê trước khi vượt tuyến. Mẹ tôi đã can đảm vượt trùng dương để ra đi, đem tôi vào cho ba tôi . Ơn tái sinh ấy làm sao tôi quên được. Vào Nam chưa được bao lâu, mẹ tôi đã bị té trên võng xuống và bị đau xương sống từ ngày đó đến nay . Ba tôi đã không quản ngại khó nhọc để thay mẹ tôi làm những việc nặng nhọc trong nhà.

Chúng tôi rất hãnh diện về người từ mẫu thân yêu . Trên đầu mười ngón tay của bà đều có những đường xoáy tròn đều đặn như những đồng tiền. Có lẽ đó là dấu hiệu của một người khéo tay về mọi mặt. Việc gì mẹ tôi làm đều đến nơi đến chốn và có vẻ thẩm mỸ. Công việc chăn nuôi, trồng trọt cũng là những sở trường của mẹ tôi . Ngoài ra trí nhớ đặc biệt của bà đã làm niềm tự hào của mấy anh em chúng tôi . Mẹ tôi nhớ rất giỏi từng chi tiết nhỏ nhặt về những liên hệ bà con hoặc những biến cố trong gia đình hai bên nội ngoại . Tôi đã được nghe mẹ tôi kể nhiều chuyện xưa tích cũ hoặc những bài ca dao tục ngữ, những điệu hò, câu vè của dân gian.

Khi còn ở ngoài quê, mẹ tôi một lòng phụng dưỡng ông bà nội, không hề nghe một tiếng phàn nàn chê trách. Bản tính nhân hậu nên mẹ tôi đã được nhiều người thương và giúp đỡ, không phân biệt bà con hay hàng xóm, lương hay giáo .

Công ơn dưỡng dục và những vất vả của ba mẹ tôi , giống như các bậc cha mẹ khác, giấy bút kể không xiết. Xin nhận nơi đây tấm lòng hiếu thảo chân thành của con và xin tha thứ cho những ngỗ nghịch, xúc phạm, phụ ơn sinh thành của chúng con

Linh Mục Thúc Phụ Phêrô Nguyễn Văn Hưởng

Khuôn mặt quan trọng thứ hai trong cuộc đời của tôi là người chú thân yêu, linh mục Nguyễn Văn Hưởng.

Chú tôi từ những ngày đầu theo chân Chúa cũng đã trải qua nhiều gian nan: nào là bị Pháp bắt, từ đó phải xa gia đình lúc 14, 15 tuổi; nào là vất vả học hành trong điều kiện kinh tế ngặt nghèo . Bà con hàng xóm còn nhớ đến chú Hưởng, vừa gánh nước vừa cầm cuốn sách trong tay . Thiên Chúa quan phòng đã sắp đặt để chú tôi được vào chủng viện khi đưa mẹ con tôi vào Nam. Gần 30 năm trời làm việc tại giáo xứ Tân Định (1968) chú tôi đã được giáo dân thương mến và kính trọng. Bản tính hiếu học, cần cù và thánh thiện, xả kỷ của người chú thân yêu đã nêu gương sáng cho tôi trong đời linh mục. Xin cảm ơn chú bội phần.