Hoa Kỳ

(1984)

Sau một năm xa quê hương (13/6/1983-11/6/1984), lưu lạc đời tỵ nạn, nay tôi đã đến mảnh đất mà có lẽ phải chọn làm quê hương thứ hai sau tổ quốc mình. Đó là Hoa Kỳ, quốc gia mà biết bao nhiêu người trên thế giới mơ ước được đến ở.

Hai anh em tôi đến thành phố Jersey City, tiểu bang New Jersey vào một buổi tối mùa hè. Ở đây đã có Quang Yến, Dũng và 2 cháu: ÁiVy (sinh tại Palawan) và Quang Huy, Nói sao cho hết nỗi vui mừng hội ngộ trên xứ người .

Cuộc đời thế là tạm yên nơi ấm chỗ. Tôi nghĩ ngay đến việc vào chủng viện liền. Quyết định này không phải hình thành trong một sớm một chiều nhưng là kết quả của một năm trời bên đất Phi . Tôi đã tự nhủ là nếu muốn tiếp tục thì nên xin vào chủng viện ngay . Có nhiều anh em đã hoãn lại chưa nhập một giáo phận nào vì phải lo đi làm kiếm tiền trả nợ ra đi hay giúp gia đình đang túng quẩn bên quê nhà. Kết quả là con số bỏ cuộc khá nhiều .

Sau ba lần phỏng vấn tôi đã được nhận vào Đại Chủng Viện Immaculate Conception thuộc tổng giáo phận Newark, New Jersey . Cuộc đời tôi luôn gắn liền với Mẹ Maria . Nhà thờ tôi chịu phép Rửa Tội là nhà thờ Nữ Vương Bình An (Regina Pacis), Tiểu Chủng Viện đầu tiên là Sao Biển (Stella Maris), Đại Chủng Viện Xuân Bích lấy ngày Mẹ Dâng Mình Vào Đền Thánh (21/11) làm bổn mạng. Chiếc tàu đánh cá Phi kéo ghe chúng tôi về Manila vào chiều thứ bảy (18/6/1983) mang danh hiệu là Luz Maria (Ánh Sáng Mẹ Maria). Sau này, tôi chịu chức phó tế ngày lễ Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (8/12/1985). Những giáo xứ tôi đã giúp cho đến ngày nay là: Mẹ Lên Trời, Mẹ Từ Bi, Mẹ Sầu Bi . Chắc chắn Mẹ đã luôn ở bên tôi, dìu dắt, vỗ về tôi trong những tháng ngày tao loạn hay những lúc muốn bỏ cuộc, đứt gánh giữa đường.

Cuộc sống chủng viện bên My?này có nhiều khác lạ và dễ dàng hơn so với các chủng viện bên Việt Nam. Chúng tôi được tự do rất nhiều . Cá nhân tôi không phải lo lắng nhiều về tiếng Anh nên việc học cũng bớt phần gian lao . Cha giám học cho phép tôi chọn bất cứ môn gì tôi cảm thấy cần bổ túc thêm hay chưa học tới . Nhưng tôi cũng không tránh khỏi những giờ phút thật đau đầu vì đã mấy năm qua làm lụng vất vả, quên đi cái thói quen ngồi trong lớp nghe giảng bài . Đã có nhiều lần tôi đi quanh quẩn trong phòng riêng, cầu nguyện xin Chúa giúp đỡ cho học được đến nơi đến chốn. Nhưng lạ một điều là tôi không nóng ruột về ngày chịu chức. Một lần cha giám đốc hỏi tôi về chuyện này . Tôi thưa là tâm trạng hiện tại của tôi giống như một chú học sinh, hấp tấp chạy ra xe buýt vì đã trễ giờ. Nhưng một khi đã lên xe được rồi thì chú không lo lắng gì nữa và lúc đó ngồi ở hàng đầu hay cuối xe cũng không quan trọng gì đối với chú. Tôi cũng vậy . Nay đã được nhận vào chủng viện, nếu chịu khó và kiên trì thì sớm hay muộn, ngày chịu chức cũng đến.

Sau nửa năm thần I, tôi được ghi trong danh sách lớp thần II . Đến năm thứ hai thì tôi lại thuộc về lớp thần III . Chưa hết lục cá nguyệt đầu của năm thứ hai, tôi đã được gọi chịu Phó Tế. Hôm đó là ngày lễ thánh Têrêsa Avila, 15 tháng 10 năm 1985. Khi nghe cha giám đốc kêu vào phòng báo là toàn bộ các cha giáo đã bỏ phiếu đồng ý tôi được chịu chức sáu vào dịp này cùng với các anh Thần học IV, tự nhiên do một sự thúc đẩy vô hình nào đó, tôi đã quỳ xuống cảm tạ Thiên Chúa ngay trước mặt cha giám đốc (Richard Liđy). Ngày 8 tháng 12 năm 1985 Đức Giám Mục Phụ Tá Robert Garner đã phong chức phó tế cho tôi cùng với 9 anh em khác tại nhà thờ Our Lady of Sorrows, South Orange .

Sau đó tôi được gởi về giáo xứ Mông Triệu (Assumption Church) tại Roselle Park do đức ông Joseph Loreti làm chánh xứ. Đức ông là một linh mục nhân đức và thương người . Ngài đã đối xử với tôi như một người con.
Ngay sau khi chịu chức Sáu, tôi đã biết được ngày phong chức linh mục năm sau nên đã viết thư về báo cho gia đình ở Việt Nam. Ba mẹ tôi bàn tính chuyện đi sao cho kịp ngày phong chức của tôi . Thế nhưng chỉ có ba tôi đi được và đến Phi ngày 8 tháng 5 năm 1986. Còn mẹ tôi và em gái út thì bị bắt sau một ngày lặn lội trên các đồi núi vùng cửa Bé, Cầu Đá. Một tháng sau bà mới được thả về. Thế là ba mẹ tôi, lại một lần nữa, phải chịu cảnh chia ly! Trên ghe, ba tôi đã dùng dằng không muốn đi vì thiếu mẹ tôi, nhưng cuối cùng thì phải chấp nhận, hy vọng mẹ tôi sau này có dịp khác! Ông đến trại Palawan an toàn trên ghe của ông bà Hoe, cũng là chiếc ghe đưa tôi ra thuyền lớn năm nào . Đã ba lần gia đình nầy (tôi xưng là cậu mợ) đã gia ân cho gia đình chúng tôi: lần thứ nhất khi tôi và Cảnh đi, lần thứ hai cho em Hải nhảy qua ghe của ông Vượng năm 1985, lần thứ ba như đã nói trên.

Rồi cuối cùng ngày trọng đại đã đến, ngày mà tôi theo đuổi suốt 25 năm trời trải qua bao nhiêu khó khăn về học vấn cũng như sinh kế và hoàn cảnh chính trị của đất nước Việt Nam, từ biến cố đảo chánh năm 1963, lật đổ đệ I Cộng Hoà đến biến cố 1975, thay đổi hầu như toàn diện cuộc hành trình ơn gọi của tôi . Đó cũng là tiêu đề của cuốn hồi ký nhỏ bé này . Ơn gọi của tôi luôn gắn liền với những tình tự quê hương, cùng sống mạnh với quê hương, cùng đau khổ với quê hương, cùng tha thiết với quê hương và cũng nổi trôi không kém gì vận nước. Tiếc thay ngày quan trọng nhất của một đời theo Chúa lại được cử hành nơi xứ lạ quên người!
Sau 5 ngày tĩnh tâm, tôi đã được Đức Tổng Giám Mục Theodore E . McCarrick phong chức linh mục tại nhà thờ chính toà Thánh Tâm (Sacred Heart), thành phố Newark, New Jersey, vào lúc 10 giờ 30 sáng thứ Bảy, ngày 22 tháng 11 năm 1986. Hiện diện trong buổi lễ gồm có hàng giáo phẩm của địa phận (6 giám mục) và 300 linh mục cùng với gần 2 ngàn thân nhân bạn hữu của 10 tân chức. Ba tôi đã may mắn đến Hoa Kỳ 8 ngày trước đó nên đã có mặt trong buổi lễ. Thật là món quà quý giá mà Thiên Chúa đã ban tặng cho tôi tớ Ngài trong ngày trọng đại . Sau khi chịu chức, tôi ở thêm hai tháng ở xứ cũ rồi được thuyên chuyển về Our Lady of Mercy, Jersey City (1987).
Năm đó, gia đình tôi chẳng may mang hai đại tang cùng một lúc. Hai cô em gái, Minh Thanh (27 tuổi) và Minh Trang (18 tuổi), đã bỏ mình trên biển cả sau khi ra đi ngày 11 tháng 1 năm 1987. Sự mất mát quá lớn đã làm cho tinh thần gia đình tôi tê liệt một thời gian. Cho đến bây giờ, 10 năm đã qua, tôi vẫn chưa bao giờ dám nhắc đến tên hai em trước mặt ba mẹ tôi . Khi còn sống hai em đã có lòng muốn sống đời tận hiến. Có lẽ Thiên Chúa đã muốn đưa hai em về trời, thoát khỏi những khổ nhục, trầm luân trong kiếp sống. Xin Chúa nhận hai em vào cõi hằng sống như là của lễ của gia đình chúng con dâng lên. Hai em hãy nghỉ bằng yên.
Bài thơ của em Trang gởi cho anh Hai trước ngày chịu chức:

Ngày Anh Chịu Chức
(22/11/1986)

Nhà ta có một ông anh
Từ nhỏ đã biết học hành chăm lo .
Trước nhờ ơn Chúa thương cho,
Sau nhờ cha mẹ chăm lo chuyên cần
Khi gần đến tuổi "tứ tuần"
Được đỗ quan Trạng thấm nhuần ơn riêng.
Quê hương là chốn thiêng liêng
Nơi đây anh có mẹ hiền, em thợ
Mong ngày xum họp như xưa,
Cùng nhau xin Chúa dìu đưa đến cùng.
Đó là ơn Đấng Cửu Trùng
Muôn đời ghi nhớ ta cùng cám ơn.

(Nha Trang, 1 tháng 9 năm 1986)
Maria Goretti Nguyễn Thị Minh Trang
(RIP Jan 11, 1987)

Ba năm rưỡi sau (1990),tôi được phép giáo quyền cho đi Phi Luật Tân giúp người tỵ nạn tại Palawan ngay ở thời điểm bi đát nhất của lịch sử tỵ nạn Việt Nam: chương trình thanh lọc do các nước tạm dung ở Đông Nam Á đề ra để ngăn chặn làn sóng người ra đi khỏi Việt Nam, Cam Bốt và Lào quốc.
Sau một năm ở trại, tôi về lại Hoa Kỳ và được chỉ định làm cha phó ở Our Lady Of Sorrows, South Orange (nơi tôi chịu chức Sáu năm 1985) cho đến ngày nay (1996).