Đà Lạt

(1968-1970)

Khăn gói lên Đà Lạt cho xong năm seconde . Chúng tôi trọ tại khu học xá của Đại Học Đà Lạt, dãy nhà cuối cùng cho nhân công, và đi học trên chiếc xe hơi cổ-lổ-sỉ của Đại học tại trường Adran do các Sư Huynh La San điều hành. Lại một lần nữa tôi may mắn hưởng được nền giáo dục từ các frères đáng kính.

Trái hẳn với những ngày tháng dài lê thê ở Huế, ba tháng nơi vùng hoàng triều cương thổ nầy thật tuyệt vời . Tuổi trẻ quên đi mau những biến động kinh hoàng vừa qua để vui chơi cho hết những ngày mà Đức Cha đã cho là "nghỉ mát" khi gởi chúng tôi lên trên đó bù lại những ngày kinh hoàng ở Huế. Cá nhân tôi và gia đình luôn cảm tạ Thiên Chúa vì đã phù hộ tôi thoát khỏi số phận đau thương mà biết đâu tôi đã phải gánh chịu nếu không về Nha Trang trong dịp Tết vừa qua . Cũng trong những tháng nầy chúng tôi được học bán quân sự tại trường Võ Bị Đà Lạt.

Tháng 5/1968, chú Hưởng chịu chức linh mục tại nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn. Tôi không đi được vì đang học. Sau đó tôi nhận được hung tin một người chị họ, Công, và đứa con nhỏ đã bị chết trong một trận pháo kích tại Sài Gòn.

Sau mấy tháng hè tại gia đình, chúng tôi lên lại Đà Lạt, bắt đầu lớp première . Chủng viện Chúa Chiên Lành là tên của nhà chúng tôi ở, do cha Hoàng Kim Đạt làm giám đốc, thay cha Trần Sơn Bích. Các giáo sư nay đã đầy đủ, trong đó có cha Larroque, cha Mais từ Nha Trang lên. Bạn học đồng lớp là một số nội trú từ Sài Gòn, Chợ Lớn và các chủng sinh địa phận Kon Tum gần bờ hồ Xuân Hương. Trong lớp cũng có cô Hương, nữ sinh độc nhất, thuộc dòng Nữ La San vừa mới thành lập tại Việt Nam.

Năm đó, chúng tôi đi học bằng xe đạp. Các bạn cứ tưởng tượng cái cảnh đi xe đạp trên vùng đồi núi Đà Lạt thì hiểu rõ tại sao chúng tôi gặp nhiều tai nạn trong năm đó. Điển hình nhất là anh Lừng đã chạy thẳng xuống hồ Xuân Hương vì giơ tay chụp lại cái mũ bị bay khi xổ dốc! Cái bệnh khó trị nhất của những chiếc xe đạp là cái thắng. Vì hết kiên nhẫn để sửa nó nên có anh đã tháo bung ra rồi vừa đạp vừa cầm dây thắng nơi tay, sẵn sàng kéo khi xổ dốc Con Gà, tên chúng tôi đặt cho cái dốc từ nhà thờ chánh toà (có con gàtrống trên nóc nhà) xuống bờ hồ. Kể hết chuyện đi xe đạp trên Đà Lạt chắc phải tốn hết một tập sách dày 10 trang! Sau cùng, cảm thương cho số phận của chúng tôi, hễ ăn trưa xong là đè chiếc xe đạp xuống sửa, nên cha Giám Đốc đã cho phép năm sau đi Honda .

Trong thời kỳ này, gia đình ở Cam Ranh có phần khá hơn một chút và có thêm người em út là Nguyễn Thị Minh Trang. Cái tên diễn tả được sự tha thiết của gia đình đối với Nha Trang thân yêu . Mẹ tôi làm nghề buôn nước ngọt và bia lon bán cho mấy snack bars bên bán đảo . Có lần bị quân cảnh Mỹ bắt giải ra cổng Mỹ Ca trả cho Việt Nam. Ba tôi phải ra lãnh về!

Thế nhưng sang đến năm 1972, quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam qua hoà đàm Ba Lê nên gia đình tôi đã bắt đầu nghĩ đến việc trở về lại Nha Trang. Khu đất ở Xuân Ninh trên một mô đất cao, sát bờ biển và nằm bên cạnh khu xây cất Đại Chủng Viện thật là đẹp. Đó là công trình đầy mồ hôi của ba tôi đã cố gắng tu sửa cho ngôi nhà khang trang và mát mẻ, ngay cả việc ông cho khiêng nổi nhà lên để đổi hướng!

Chúng tôi có vườn rau, có máy bơm nước và mẹ tôi cũng nuôi vài con heo . Chiều chiều ra bãi biển bắt ốc và sò huyết đặc biệt của Cam Ranh về thưởng thức. Mối liên lạc giữa gia đình và linh mục Nguyễn Văn Lạc (+), người trông coi công trình, rất là sâu đậm. Tối nào chúng tôi cũng xuống nhà cha xem Ti Vi . Lần đầu tiên chúng tôi thấy người Mỹ chơi Football qua hệ thống tiếp vận của đài quân đội My?bên bán đảo . Dĩ nhiên là không hiểu gì nên chỉ thấy vậy thôi chứ không coi . Chúng tôi cũng được xem những loạt phim dài (series) như Wild Wild West hay Star Trek với tài tử Leonard Nimoy mà chúng tôi gọi là "Lỗ Tai Lừa" hoặc "Mission Impossible". Cha Lạc và bà Bốn, quản gia, rất thương gia đình chúng tôi . Em Phượng đi học tại trường Á thánh Năm Thuông, nhà thờ Ba Ngòi . Các em còn lại học tại trường Tiểu Học Xuân Ninh do cha Lê Quang Ngọc là chánh xứ.

Thời gian này cũng là thời gian chiến dịch Phượng Hoàng bắt lính gắt gao . Một bữa nọ, trên đường vào chở Phượng đi học về, tôi đã bị chận lại một lần tại cây số 3 và đưa vào giữ tại Ty Cảnh Sát Đặc Khu Cam Ranh 3 tiếng đồng hồ. Sau đó ba tôi vào lãnh ra, báo hại em phải đi bộ 6 cây số về nhà giữa trưa nắng chang chang! Đó là lần đầu tiên và cũng là lần độc nhất trong đời tôi bị giam giữ! Sau này khi giấy hoãn dịch gần hết hạn, tôi phải một mình một ngựa trên chiếc Honda chạy từ Đà Lạt về toà Giám Mục Nha Trang để lấy giấy mới cho toàn thể anh em trong lớp. Nghĩ lại còn thấy rùng mình vì đoạn đường Đèo Ngoạn Mục và Sông Pha lúc đó đâu có an ninh cho lắm! Cảm ơn Chúa đã gìn giữ và tha thứ cho cái tính liều mạng của con!

Sang năm terminales là năm cuối của chương trình Pháp, tôi chọn série D (ban Khoa Học). Không hiểu tại sao năm quan trọng nhất lại cũng là năm tôi ... làm biếng nhất! Vì có chiếc Honda đã xoáy cylindre thành 65cc nên tôi hay "đi đây đó" cùng với nhóm bạn cùng sở thích: thác Prenn, Suối Vàng, Cam Li, hồ Đa Thiện, hồ Than Thở... Có những môn học không quan trọng thì tôi nghỉ để vào thư viện học thêm về Lý Hoá và Vạn Vật. Vì thế tôi mang tiếng là hay cúp-cua .

Thế rồi, ngày trọng đại đã tới: thi Baccalauréat. Sau 9 năm mài đũng quần trên ghế chủng viện tại ba thành phố khác nhau (Nha Trang, Huế, Đà Lạt) và ba ngày vất vả tại Lycée Đà Lạt, cuối cùng 7 người trong lớp đã đoạt được mảnh bằng Tú Tài Pháp hạng bình thứ (mention Assez Bien). Nói sao cho xiết nỗi vui mừng của người thi đậu . Sau đây là danh sách của 8 anh em ngày mãn Tiểu Chủng Viện (1970): Định, Độ, Lành, Linh, Phượng, Thành, Trí, Vinh. (Điệp và Vân đã về năm trước).

Hè năm đó Chủng Viện mang một cái tang. Một người anh em lớp Seconde, Simon Phan Đình Hoà, trên đường về Nha Trang, đã bị tai nạn xe Honda ở đèo Ngoạn Mục. Máy bay trực thăng của Mỹ ở Cam Ranh bay lên bốc và chở ra Qui Nhơn cứu, nhưng cũng không được. Tôi còn nhớ anh Nguyễn Trung Cả, sau khi theo Hoà ra Qui Nhơn, đã ghé nhà tôi, cái áo còn dính đầy máu vì ôm Hoà đưa từ dưới hố lên. Hoà chết ngày 30/5/1970 (10 ngày sau) tại bệnh viện Tây Tân Lan (Qui Nhơn). Hoà người Thanh Hải, tu học dòng Chúa Cứu Thế, chuyển qua Sao Biển (1964), là con của bác tài xế Chủng Viện là thầy Phan Văn Hiển. Tôi gọi là thầy vì ngày xưa ông có dạy ở trường Tiểu Học La San. Anh ba của Hoà là linh mục Phan Đình Cho.