Cam Ranh

(1973-1974)

Trong mùa hè 1973, tôi đã có đủ một số tiền để mua lại một miếng đất (nằm trong khu vườn ngày xưa của gia đình) để làm nhà. Vật liệu xây cất lấy từ nhà cũ trong Cam Ranh. Ba tôi đã tính toán thật giỏi khi ông nói là nếu làm nhà hai gác thì sẽ thiếu một bên vách. Thật đúng như ông dự tính. Tôi còn nhớ rõ buổi tối đầu tiên nằm trên gác trong căn nhà mới sau hai năm ở trọ nhà người khác, dù là họ hàng ruột thịt. Cảm ơn Chúa đã cho chúng tôi một mái nhà che mưa che nắng. Căn nhà này khang trang và mát mẻ. Cho đến bây giờ, không biết là ba mẹ tôi đã làm bao nhiêu nhà, ở bao nhiêu nơi . Hy vọng lần này sẽ ổn định hơn.

Năm đó tôi dạy sinh ngữ ở ba trường trung học trải dài từ nam đến bắc Cam Ranh: Vạn Hạnh, một trường Phật giáo ở phía nam, do đại đức Thích Trí Tấn làm giám đốc. Đại đức rất dễ thương và rất thích chúng tôi là một nhóm giáo sư công giáo . Tôn giáo đề huề có lẽ không đâu bằng cái trường nầy! Lâu lâu đại đức cũng la chúng tôi về chuyện chuối cúng buổi sáng đem lên chưng trên quả ở từ đường thì buổi trưa đã biến mất. Ai là thủ phạm nếu không phải là mấy ông thầy công giáo ?

Trường thứ hai là trường Văn Tứ ở phiá bắc Cam Ranh. Trường này thuộc giáo xứ Tân Bình do cha Lê Trọng Nghĩa làm chánh xứ. Ở đây tôi dạy Anh văn và Công Dân.


Trường chính mà tôi làm giáo sư cơ hữu là Nghĩa Yên (Hoà Nghĩa - Hoà Yên) do cha Võ Ngọc Nhã, cha xứ Hoà Nghĩa, sáng lập. Trường này rộng và cao ráo . Tôi dạy Anh văn lớp 6, 7 và 9, Pháp văn lớp 10, 11 và 12. Thời gian ở đây tôi ở trọ tại cây số 9 (Cam Phúc) với gia đình thầy Đậu Trung Sự, một người bạn thân từ Tiểu Chủng Viện. Sau khi thầy đưa gia đình về nhà cha mẹ ở Hoà Yên thì tôi trọ luôn trong trường.

Một năm tại Nghĩa Yên tràn đầy kỷ niệm với những sinh hoạt phong phú từ văn nghệ, lửa trại đến thể thao . Tôi làm hướng dẫn viên cho đội bóng rổ của trường. Một lần đi đấu trong Cam Ranh với một đội học sinh Trung Hoa, tôi đã thảy vào gần nửa số điểm của đội (28/69). Tiếc là hôm ấy thua, chỉ một điểm thôi!

Mỗi thứ bảy tôi đều đáp xe đò về Nha Trang thăm gia đình. Thường là tôi mua than về cho mẹ tôi nấu . Cứ tưởng tuợng một ông giáo sư mặc áo vét đạo mạo, vác trên vai một bao than, quý vị cũng đủ thấy số tôi khổ như thế nào!

Mùa hè năm 1974, tôi quyết định trở lại Chủng Viện. Trong ngày thứ Năm tuần thánh, tôi đã tĩnh tâm một mình trước Thánh Thể. Sau đó về Nha Trang trong dịp nghỉ Phục Sinh, tôi vào trình với Đức Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, xin Ngài nhận tôi lại . Ngài đã vui vẻ nhận lời và gởi tôi ra Đại Chủng Viện Hoà Bình, Hoà Khánh, Đà Nẵng, để bổ túc thêm phần triết mà tôi bỏ dở năm thứ hai ở Huế.

Cũng vào những ngày gần cuối hè này, giáo xứ Vĩnh Phước mất đi một chủng sinh tràn đầy hứa hẹn: thầy Antôn Nguyễn Ngọc Quang. Quang là con trai đầu của ông Nguyễn Mẹo, thuộc địa phận Qui Nhơn, đã xong hai năm triết ngoài Huế. Vừa ra giúp xứ ở Đông Mỹ, Tuy Hoà được hai tuần, Quang bị đau đường ruột và đem về Nha Trang mổ. Nhưng tiếc thay, Quang đã ra đi khi mới 23 tuổi đời, để lại cho gia đình, địa phận và giáo xứ cùng bạn bè thân thiết một niềm thương nhớ không nguôi . Riêng tôi, nỗi bàng hoàng đau đớn đã bộc phát quá bất ngờ tại nghĩa địa khi tôi phủ phục trước linh cửu đã không cầm được nước mắt để đọc cho xong bài điếu văn, được soạn ra với tất cả tấm lòng của một người anh mất em, một người bạn mất tri âm.