Một Vài Cảm Nghĩ

Đến đây là kết thúc một phần hồi ký của tôi. Trước hết xin thành thật cảm ơn quý bạn đã kiên nhẫn đi lại con đường đời của tôi, được viết ra không ngoài mục đích cảm tạ Thiên Chúa từ nhân đã luôn thương đến tôi tớ Ngài và các bậc sinh thành đã hy sinh rất nhiều trong cuộc sống để tôi được như ngày nay.

Tôi cũng không thể nào quên được người chú thân yêu, linh mục Nguyễn Văn Hưởng, đã dìu dắt tôi trên con đường còn chập chững trong ơn gọi.

Cảm ơn địa phận Nha Trang, các vị Giám Mục, các đấng bề trên, các vị giáo sư của các chủng viện mà tôi đã theo học, đã luôn ân cần đối với tôi và đặc biệt khi tôi trở về quê hương năm 1994, đã hoan hỉ đón mừng trong tình thân thiết đậm đà.

Cảm ơn các thầy giáo từ những ngày đầu đến trường học, các ân nhân, các em gái và em trai thân yêu trong gia đình và tất cả thân bằng quyến thuộc cùng các bạn bè của tuổi thơ cũng như sau này và những người không quen biết, đã trực tiếp hay gián tiếp đưa tôi đến thiên chức linh mục, cùng đi với tôi trong cuộc hành trình đi tìm Thánh Ý Thiên Chúa. Trong số những ân nhân lớn của tôi, đặc biệt có gia đình ông bà Khanh (Dì ruột của mẹ). Có thể nói được rằng gia đình ông bà đã sinh tôi ra lại lần thứ hai khi đưa hai mẹ con vượt tuyến để được đoàn tụ cùng người cha thân yêu trong miền Nam vào mùa hè 1955. Cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao ông bà đã thương tình đưa hai mẹ con đi trong cảnh hiểm nghèo, trong khi dó để lại gia đình người con gái đầu (dì Khanh).

Ngày hôm nay khi hồi tưởng lại quá khứ tôi xin được dùng lời của Đức Giáo Hoàng Đương Kim Gioan Phaolô II trong cuốn "Ân Sủng Và Mầu Nhiệm" (Gift And Mystery) của Ngài phát hành nhân dịp kim khánh linh mục vào cuối năm 1996 khi Ngài viết lại quãng đời trong thời kỳ chiến tranh. Sau khi kể tên một số bạn học và những người quen biết đã là nạn nhân của chiến tranh và đã chết tức tưởi hoặc trên chiến trường hoặc trong các lò hơi ngạt của Đức quốc xã, Đức Thánh Cha đã tâm sự:

"Tôi đã được che chở khỏi phần lớn toàn bộ khung cảnh kinh hoàng vô cùng tận của Đệ Nhị Thế Chiến. Tôi đã có thể bị bắt bất cứ lúc nào, tại nhà, hay tại hầm làm đá, trong công xưởng, và có thể bị đưa đi đến một trại tập trung. Đôi khi tôi tự hỏi: nhiều thanh niên cùng lứa tuổi đang mất mạng sống, tại sao không phải là tôi ? Ngày hôm nay tôi nhận thức được rằng đó không phải là hoàn toàn may mắn. Giữa cơn tàn ác cao độ của chiến tranh, tất cả những gì trong cuộc sống cá nhân của tôi đều như vươn tới góp phần tích cực trong ơn gọi của tôi. Tôi không thể quên được lòng tốt dành cho tôi trong thời điểm khó khăn đó của những người mà Thiên Chúa đã đặt để trên cuộc hành trình của tôi, cả những người thân trong gia đình lẫn các đồng nghiệp và các bạn bè của tôi." (Sách đã dẫn, dịch từ bản Anh ngữ, trg. 36, nxb. Doubleday, New York, 1996)

Ở một đoạn khác, sau khi liệt kê tên một số vị trong hàng giáo phẩm Ba Lan cũng như bạn hữu đã chết dưới nhiều hình thức dã man khác nhau, Ngài đã viết:

"Tôi viết ra những chuyện trên đây để nhấn mạnh rằng chức linh mục của tôi, ngay từ lúc khởi đầu, một cách nào đó đã được ghi dấu bằng sự hy sinh cao cả của vô số người cùng thế hệ với tôi. Thiên Chúa Quan Phòng đã không bắt tôi phải chịu những kinh nghiệm khổ ải nhất của cuộc sống; vì vậy tôi ý thức được là mình đang mang một món nợ ân tình thật nặng đối với những người quen thân lẫn những người mà tôi không hề biết; tất cả những vị đó, không phân biệt quốc gia hay ngôn ngữ, qua hy tế trên bàn thờ lịch sử, đã giúp làm cho chức linh mục của tôi thành sự thật. Một cách nào đó, họ đã hướng dẫn tôi đi trong con đường này; qua hy tế của chính mạng sống mình họ đã dạy cho tôi sự thật sâu xa và cốt yếu nhất về chức linh mục của Đức Kitộ" (Sách đã dẫn, dịch từ bản Anh ngữ, trg. 39, nxb, Doubleday, New York 1996)

Những lời vàng ngọc trên đây của Đức Thánh Cha cũng phản ảnh một phần nào tâm tình của tôi. Phải, ngay từ lúc chào đời cho đến ngày hôm nay, 47 năm qua, biết bao biến động trong đời. Thiên Chúa đã gìn giữ tôi trong bóng cánh của Ngài. Nhiều khi tôi có cảm tưởng là trên thế gian nầy chỉ hiện diện có một mình tôi và Thiên Chúa đã chăm sóc, bảo vệ, vun bón tôi đặc biệt để tôi được như ngày hôm nay. Ba mẹ tôi thường dạy bảo con cái: nhìn lên thì không bằng ai, nhìn xuống thì thấy mình cũng đã khá hơn nhiều người khác đang kém may mắn, sống trong cùng khổ. Cảm ơn Chúa tận tình vì những ơn Ngài ban cho cuộc sống.

Cảm tạ Chúa khi cho tôi chào đời vào thời điểm gay gắt nhất của đất nước (thập niên 1950) trong thế kỷ 20. Chúa đã cho tôi được tận mắt chứng kiến những thay đổi lớn của lịch sử đất nước, từ những thay đổi to lớn sau trận Điện Biên Phủ cho đến cuộc di cư vĩ đại vào Nam, và sau đó biến cố đảo chánh 1963, thay đổi toàn bộ hoàn cảnh chính trị của cả quốc gia.

Những ngày trước và sau 1975, tôi đã sống theo những hỗn loạn của đồng bào ruột thịt, những mất mát của người thân. Hai người em gái thân yêu, Thanh và Trang, đã cùng hàng trăm ngàn người, gởi thân nơi biển cả (1987) trên con đường đi tìm tự do. Xin Chúa đưa hai em và tất cả những người, bằng cách nầy hay cách khác, đã bỏ mình cho lý tưởng về nơi an nghỉ muôn đời.

Cảm tạ Chúa vì đã cho tôi sống vào thời đại trước và sau công đồng Vatican II, mấu chốt lịch sử của Giáo Hội ở thế kỷ 20. Tôi đã thụ lãnh từ Giáo Hội, từ quê hương một hành trang quý báu để mạnh dạn bước vào đời, từ tiếng mẹ đẻ đến ngoại ngữ, từ học vấn đến kinh nghiệm. Xin nhận nơi đây lòng biết ơn và cảm mến.

Cảm ơn quê hương Lộc Thủy, Hà Tĩnh, nơi tôi cất tiếng khóc chào đời. Cảm ơn dòng nước mặn vùng cửa Sót đã hun đúc nên người con nầy. Tôi thường nhắc nhở các em và những người anh em trong họ hàng là mình phải tự hào về nguồn gốc của cha ông, những con người thánh thiện và nhân hậu, đã sống trước ta. Của cải nhiều đến đâu cũng không bằng những gương sáng của các ngài để lại qua cha mẹ chúng ta. Xin nhận nơi đây lòng tri ân của hậu duệ luôn tưởng nhớ tổ tiên.

Ngoài tâm tình cảm tạ, tôi không thể không viết lên đây tâm tình bất xứng của tôi Khi còn nhỏ trong chủng viện, tôi thường nghe các tân linh mục cho mình là tôi tớ bất xứng nay được Chúa dủ thương nâng lên hàng khanh tướng. Những lời cảm tạ trên đối với tôi lúc đó chỉ là sáo ngữ. Nhưng bây giờ tôi mới thấm thía những câu chúc tụng thánh thiện ấy. Phải, tôi thật là bất xứng để được Thiên Chúa thương tình nếu đem so sánh với biết bao người khác.

Trong cuộc đời đi tu, có nhiều anh em trong lớp mà tôi tưởng là sẽ được Thiên Chúa gọi lên hàng tư tế. Ngờ đâu, vì biến cố đưa đẩy, vì những hoàn cảnh ngoài ý muốn, các bạn ấy đã trở về. Họ là những người có khả năng hơn tôi, đạo đức hơn tôi, học giỏi, thông minh hơn tôi. Thế mà Thiên Chúa đã không gọi họ vào thông phần linh mục ngàn đời của Đức Kitô. Thánh ý Thiên Chúa nhiệm mầu: Ngài gọi tôi không phải vì tôi nhưng vì tình thương của Ngài đối với tôi.

Cũng trong tâm tình nầy, tôi nhận thức được rằng những vất vả trong cuộc đời tôi kể ra trên đây thật không đáng gì nếu đem so sánh với biết bao đau khổ mà các bạn bè tôi, những người thân tôi đã gánh chịu. Tôi đã không bị đe dọa đến mạng sống một cách nghiêm trọng trong bất cứ giây phút nào của cuộc sống. Trong khi đó, hàng lớp lớp bạn bè, những người trai cùng thế hệ đã bỏ mình nơi chiến địa ở cả hai bên chiến tuyến. Chúng tôi như những hạt đậu trên một chiếc sàng. Tại sao tôi còn ở lại trên sàng? Chỉ vì những hạt đậu khác đã rớt ra ngoài, để chỗ cho tôi ở lại!

Xin Chúa từ nhân và Mẹ Maria Sao Biển chúc lành cho tất cả.

TẤT CẢ LÀ HỒNG ÂN