Biến Cố 1975 và Di Tản

Cuộc đời tưởng là êm thắm sau mấy năm lao đao . Nào ai học được chữ ngờ. Ai ở đây có nghĩa là toàn thể con dân Việt từ Nam chí Bắc, không một người nào tưởng tượng được cái biến cố 1975 đã xáo trộn toàn bộ cuộc sống của một quốc gia 50 triệu người trên mảnh đất cong cong hình chữ S nầy .

Chi tiết về những ngày tao loạn nầy đã được nhiều sách vở, báo chí viết nhiều nên tôi không nhắc lại đây mà chỉ thu gọn lại trong cuộc hành trình của tôi từ Đà Nẵng về Nha Trang ngày 23 tháng 3 năm 1975. Đại Chủng Viện giải tán sau khi cha giám đốc phát cho mỗi người một ít tiền và tờ giấy chứng nhận đầy đủ điều kiện để nhận lãnh các tác vụ trong Giáo hội theo lớp học của mình. Tôi về Thanh Đức và sau đó cùng một vài người bạn thuê được một chiếc ghe chạy vào Nha Trang.

Chúng tôi khởi hành bình yên vì lúc đó người ở Quảng Trị và Huế chưa chạy vào nhiều . Ra đến cửa Hàn, tôi bắt đầu say sóng (thật là xấu hổ khi mang danh là dân biển!) nhưng cũng cố ngóc đầu dậy để thấy dập dờn trên sóng những xác người chết đuối từ khi nào! Trong mấy ngày trên biển chúng tôi hoàn toàn mù tịt về những thảm kịch đang xảy ra trên những chuyến di tản bằng đường bộ khác.

Chiếc ghe cập bến cá Cù Lao, Nha Trang vào một buổi sáng sớm. Tôi vui mừng đem các bạn về nhà. Tôi còn nhớ bữa cơm đầu tiên là cá nục cuốn bánh tráng. Sau đó các bạn tôi chia tay nhau, mỗi người mỗi ngả. Cho đến bây giờ, 21 năm sau, có người trong nhóm này tôi chưa hề gặp lại.

Lúc đó Nha Trang đã có nhiều người từ ngoài Trung vào, trên cao nguyên xuống. Người trên cầu Bóng nối đuôi nhau đi về phía thành phố, ai cũng mang nét mặt sợ hãi và thất thần. Cha Trần Văn Phiên lúc đó là cha xứ đã giục chúng tôi phải đi ngay vì Nha Trang sẽ bị chiếm bất cứ lúc nào . Vì thế ngay chiều thứ hai sau Phục Sinh, toàn bộ các thuyền Hà Tĩnh đều chạy ra đảo, trong đó có gia đình chúng tôi đi theo ghe dượng o Mến. Tối hôm đó, từ đảo Bích Đầm nhìn vào, chúng tôi thấy chợ Đầm lửa cháy ngút trời .

Ở đảo được hai ngày, chúng tôi lên một chiếc tàu nhỏ chạy vào Vũng Tàu . Cái thảm cảnh trên tàu của chúng tôi, tuy không kinh hoàng như những chuyến xà lan chạy từ miền Trung chạy vào nhưng cũng đủ vất vả để chúng tôi nhớ đời vì sóng gió ngang qua vùng Cam Ranh cho đến Mũi Né. Ba tôi vẫn luôn bình tĩnh để đối phó với mọi tình thế. Những người chủ tàu đã tìm cách đòi tiền của chúng tôi nhưng đã không thành công vì chúng tôi không có gì ngoài mấy bao cơm khô mà ba mẹ tôi đã khôn ngoan phát cho từng đứa khi còn ở nhà.

Đến Vũng Tàu, tôi lên Sài Gòn ngay để gặp chú Hưởng đang làm cha phó tại Tân Định. Sau khi bàn bạc với gia đình, chú tôi đã đem gia đình lên thành phố, đường Phạm Thế Hiển, vùng cầu chữ Y, ở tạm trong một văn phòng Caritas của địa phận Sài Gòn.

Riêng tôi thì trụ sở hội Xuân Bích gởi đến Đại Chủng Viện Sài Gòn ở tạm cùng với các anh em khác sau khi đã thỏa thuận trả cho Đại Chủng Viện một số tiền cơm nước. Tôi ở đó cho đến ngày 30 tháng 4, có mặt trong đám đông người dân Sài Gòn chứng kiến ngày quân đội miền Bắc vào phá cổng dinh Độc Lập, bắt đầu một trang lịch sử khác của Việt Nam nói chung và miền Nam Việt Nam nói riêng.
Qua cổng sắt của Đại Chủng Viện Cường Để, tôi đã thấy cảnh người chen người chạy xuống bến Bạch Đằng qua ngã hải quân công xưởng. Tôi đã chứng kiến cảnh một anh lính hải quân kê súng vào đầu tự sát khi nghe lệnh giải giới . Tôi cũng đã thấy cảnh những người lính biệt động quân cuối cùng bảo vệ thành phố Sài Gòn gần cầu Phan Thanh Giản. Và tôi cũng đã gặp những ngưòi lính bên kia, xanh xao, vàng vọt như tàu lá chuối, "hùng dũng" tiến vào thành phố.

Một buổi chiều nọ, tôi đã gặp 5 anh bộ đội đi vào Chủng Viện như tìm kiếm cái gì. Sau khi hỏi chuyện thì biết là các chú ấy đi tìm nhà thờ. Tôi dẫn họ vào nhà nguyện và họ đã đọc kinh khoảng 5 phút. Sau đó một anh trong nhóm cho tôi xem một xâu chuỗi và nói rằng: trước khi đi Nam, mẹ anh đã cho anh xâu chuỗi này và dặn anh lần chuỗi thường xuyên. Anh đã nghe lời mẹ dặn và nay tin rằng anh đã chiến thắng bọn ngụy và đế quốc nhờ xâu chuỗi này (?).

Một tuần sau, gia đình chúng tôi về lại Nha Trang. Tôi theo các cha trong địa phận về trên xe đò của ông Phượng bên Phước Hải . Trên đường chúng tôi bị chận lại rất nhiều nơi . Đa số các người giữ trạm là các chú du kích mới tuyển, khoảng 14, 15 tuổi, vai vác khẩu súng to hơn thân xác của các cậu! Một cha ngồi bên cạnh nói nhỏ: "Không sợ người lớn cầm súng mà sợ nhất là mấy thằng nhỏ táy máy chân tay!"

Cuối cùng chúng tôi về Nha Trang bằng yên lúc 2 giờ sáng. Tôi đã về nhà sum họp với gia đình và lo sửa sang lại nhà cửa đã hư hại nhiều . Lúc đó chúng tôi mới thấy rõ mức độ tàn phá khủng khiếp của cái đêm chúng tôi ở đảo .

Ngay buổi tối sau khi chúng tôi di tản ra đảo, vùng Tháp Bà bị oanh tạc bằng bom bi rất nặng nề. Cầu Bóng bị lủng một lỗ to bằng miệng giếng. Người bạn hàng xóm và cùng lớp tiểu học của tôi, Ngô Xuân Thành, trung úy pháo binh, chạy bộ từ Ban Mê Thuột về bằng yên một tuần trước đó, đã bị mảnh bom chém ngay cổ họng và chết nơi bụi chuối bên nhà. Nhà của chúng tôi bị trúng một quả bom bi ngay đòn đông, đòn ngang chính giữa mái . Đạn bi đâm nát căn gác là nơi anh em chúng tôi 8 người nằm ngủ hằng đêm! Đồ đạc trong nhà không có gì thoát khỏi các lỗ đạn bi . Nếu không đi tản kịp ngày hôm đó thì gia đình chúng tôi chắc chắn không ai toàn mạng. Dĩ nhiên là chúng tôi hoàn toàn không biết gì về đêm kinh hoàng này cho đến bây giờ mới thấy mình thật là may mắn. Cũng đêm đó 100 người hàng xóm đã bị chết do mảnh bom rải xuống chung quanh Tháp Bà và khoảng trên 20 căn nhà bị cháy rụi . Cảm tạ Thiên Chúa đã thương gìn giữ gia đình chúng con trong đêm biến loạn.

Tôi cũng được biết là một nguời bạn cùng lớp ở Hoà Bình, Tống Thanh Luyến (Huế) đã mất xác khi bị đạp xuống khỏi xà-lan chạy vào Sài Gòn.

Tâm trạng của tôi trong những ngày sau 1975 cũng là tâm trạng của khoảng 30 triệu người dân miền Nam: chới với, lo sợ và ngỡ ngàng như sau một cơn ác mộng! Phải làm gì ? Phải ăn nói như thế nào ? Phải hành xử ra sao ? Phải đi đâu ? Phải quyết định như thế nào ? Và còn hàng trăm câu hỏi khác đang dồn dập, đang tràn ngập đầu óc như muốn vỡ tung. Nhiều câu hỏi cho đến bây giờ vẫn chưa được giải đáp thỏa đáng, và có lẽ sẽ không bao giờ, dĩ nhiên trong đó có câu: Tại sao?