Câu 5. Vậy Kinh Thánh của người Công giáo và Tin lành không khác nhau về nội dung sao?

Cho đến nay khi nói về Tân Ước thì Công giáo và Tin lành có chung số sách như nhau (27 cuốn). (Điều này không đúng trong những bản dịch Tân Ước đầu tiên của Luther xét theo thứ tự các sách. Nhưng việc Luther thay đổi thứ tự chỉ còn là một việc trong quá khứ). Điều khác biệt nằm nơi Cựu Ước. Để đơn giản hoá tối đa vấn đề tôi xin nói là người Do Thái và đa số Tin lành có sách (Cựu) Giao ước với 39 cuốn, trong khi đó Cựu Ước Công giáo lại có đến 46 cuốn. Tôi nói là để “đơn giản hoá tối đa” bởi vì lập trường Giáo hội Anh giáo hoặc Giáo hội Trưởng Lão không đồng nhất (và người ta có thể tranh luận xem Giáo hội Anh giáo có thể xếp vào hàng ngũ Tin lành hay không). Thật vậy, nhiều Giáo hội Tin lành chưa bao giờ chính thức tuyên bố là Cựu Ước có bao nhiêu cuốn. Một sự kiện lơ lửng nữa là các Giáo hội Chính thống và Đông phương đã nhiều lần đồng ý với danh sách dài của Kinh Thánh Công giáo và đề nghị ngay cả một danh sách dài hơn.

Nhưng nếu đơn giản hoá và chỉ đề cập đến lập trường của Tin lành và Công giáo thì bảy cuốn sách có trong Cựu Ước Công giáo nhưng không có trong Cựu Ước Tin lành được người Công giáo gọi bằng một tên dài dòng là sách thuộc đệ nhị thư quy (deuterocanonical books). Người Tin lành gọi các sách ấy là ngụy thư (apocrypha). Đó là sách Tobia, Giuđitha, 1 và 2 Macabê, Khôn ngoan (của Salômôn), Huấn ca (Ecclesiasticus) và Barúc (kể cả Thư của tiên tri Giêrêmia); và đúng hơn nữa là một phần của các sách EstherDaniel. Vấn đề có hơi phức tạp, nhưng cách chung, chúng ta có thể nói rằng những cuốn sách này đã được lưu truyền lại bằng tiếng Hy Lạp, không phải tiếng Do Thái hay Aram. (Một vài cuốn đó nguyên thủy được viết bằng Do Thái hay Aram - phần lớn sách Sirach -Do Thái nay đã được khám phá - nhưng không được giữ lại trong các ngôn ngữ đó). Chúng được các  Kitô hữu biết đến qua Bản dịch 70 là bản dịch Hy Lạp do các người Do Thái trước Chúa Kitô dịch và đã được coi là Kinh Thánh chính thức của Giáo hội sơ khai.

Mối quan tâm dịch Kinh Thánh từ các ngôn ngữ gốc đã đưa người Cải Cách đi đến thái độ rất nghi ngờ những cuốn sách không viết bằng tiếng Do Thái hay Aram và phần lớn đã loại bỏ chúng. Vấn đề sau này trở nên phức tạp hơn vì các nhà thần học Công giáo đã dùng chúng để duy trì các giáo lý mà Tin lành không nhận. Ví dụ, Giuđa Macabê và chiến sĩ của ông trong 2 Mcb 12,42-46 đã cầu nguyện rằng những hành vi tội lỗi của các chiến sĩ trận vong sẽ được tẩy xóa khi kẻ chết sống lại đã được xem như là một chứng cớ có luyện ngục. Một phản ứng của phái Cải Cách là không nhìn nhận sách đó như là Kinh Thánh.

 

Câu 6. Sẽ có sự đồng ý về các sách mà người Tin lành không chấp nhận không?

Trong tương lai không thể dự đoán có một Giáo hội Tin lành nào chính thức chấp nhận bảy cuốn sách đang được tranh luận thuộc thư quy chính lục của Kinh Thánh hay không? Đa số các Giáo hội Tin lành sẽ thấy khó mà đồng ý chấp nhận một thẩm quyền phán quyết. Riêng với Giáo hội Công giáo Rôma thì lập trường sẽ không thay đổi vì đã chính thức chấp nhận những cuốn sách đó là Kinh Thánh tại Công đồng Trentô.

Nhưng sau khi đã trình bày những tin xấu, tôi xin quay về những tin tốt lành. Như đối với nhiều người những cuộc tranh luận nóng bỏng của thế kỷ XVI đôi khi có thể tìm ra những giải pháp bằng cách đi vòng quanh thay vì đối đầu trực diện nếu có thể nói theo kiểu thể thao bóng chày. Hiện nay, nhiều sách Kinh Thánh do Tin lành bảo trợ xuất bản đã cho in bảy cuốn sách (cộng thêm một số phần của Esther và Daniel) dưới tên là ngụy thư. Chẳng hạn cả The Revised Standard Version lẫn The New English Bible được phát hành dưới dạng “Kinh Thánh trọn bộ” có cả những cuốn sách trên. Cách chung, bảy cuốn sách này không được xếp in chung với các sách mà hai Giáo hội xem là thuộc thư quy Kinh Thánh, như trong Kinh Thánh Công giáo, nhưng được xếp in hoặc giữa Cựu và Tân Ước (cách hợp lý nhất) hoặc ở cuối sách, sau Tân Ước.

Việc in bao gồm các sách này không phải là nhìn nhận đó là các sách thuộc thư quy Kinh Thánh nhưng chỉ là nhìn nhận hai sự kiện có tính cách đại kết. Sự kiện thứ nhất là hiện nay người Công giáo đã bắt đầu đọc Kinh Thánh Tin lành và muốn có cuốn Kinh Thánh mà chúng ta coi là toàn bộ. Sự kiện thứ hai là người Công giáo và người Tin lành cùng cộng tác nghiên cứu Kinh Thánh, và những cuốn sách này rất là quan trọng để hiểu được truyền thống Do Thái giáo sơ khai (truyền thống bắt đầu sau cuộc lưu đày tại Babylon từ năm 587 đến 539 trước công nguyên) và Tân Ước. Chúng được viết rất gần với thời Chúa Giêsu hơn nhiều sách Cựu Ước khác được hai bên công nhận và chứa đựng những tư tưởng và quan niệm được Chúa Giêsu chấp nhận. (Chẳng hạn như cả 1 & 2 MacabêKhôn ngoan làm chứng có sự sống đời sau). Vì thế, những sách này rất cần thiết để nghiên cứu Kinh Thánh. Một vài nghi kỵ trong quá khứ đã được giải tỏa, với sự kiện độc giả và sinh viên Tin lành trở nên quen thuộc với các sách thuộc đệ nhị thư quy. Họ không còn coi chúng như những khí giới trong tay kẻ địch nữa. Tiện đây cũng xin đưa ra một chi tiết lý thú: sau Thánh vịnh, Huấn ca là sách Cựu Ước mà các giáo phụ thường dùng nhiều nhất, vì trong đó chứa đựng một kho tàng giáo huấn luân lý dùng cho giáo lý Kitô giáo.

 

Câu 7. Cha nói là Tin lành và Công giáo đồng ý về các sách Tân Ước. Còn những phúc âm ngụy thư thì sao?

Câu hỏi này giúp chúng ta phân biệt hai nghĩa của từ “apocrypha” (ngụy thư). Tin lành dùng từ đó để chỉ các sách thuộc đệ nhị thư quy mà chúng ta vừa đề cập - là những cuốn sách Cựu Ước mà người Công giáo nhận là Kinh Thánh và Tin lành thì không. (Một lần nữa xin nhắc lại rằng đây chỉ là một kiểu xác định vắn tắt). Nhưng từ ngữ trên còn được dùng một cách bao quát hơn để chỉ những cuốn sách của Do Thái và Kitô giáo mà cả Công giáo lẫn Tin lành đều không nhận là Kinh Thánh. “Ngụy thư” gồm những sách Do Thái giáo như sách Enoch, Hoan hỷ, và Esdra IV là những sách không được chấp nhận theo sự đồng ý chung về thư quy Kinh Thánh như chúng ta được biết, ngay cả dù Giáo hội Ethiopi chấp nhận một vài cuốn. Từ “ngụy thư” cũng được áp dụng cho những tác phẩm Kitô giáo, kể cả những phúc âm không được xếp vào thư quy. Một vài cuốn đã được lưu giữ từ thời cổ xưa. Tôi đặc biệt chú ý đến Tiền Phúc âm của Giacôbê rất quan trọng để hiểu được thái độ của các kitô hữu về thời thơ ấu của Chúa Giêsu (xem các câu hỏi 10, 67, 86). Một vài phúc âm ngụy thư, dù được biết đến từ xa xưa, đã bị thất lạc và nay đã tìm lại được. Nổi tiếng trong số đó là một phần trong sách Phúc âm của Phêrô, một tập truyện tưởng tượng về cuộc khổ nạn. Đặc biệt, cuối thập niên 40, tại vùng Nag Hammadi hoặc Chenoboskion, Ai Cập, người ta đã khám phá được một sưu tập (phần lớn thuộc phái Ngộ đạo) thường được coi một cách không chính xác như là các sách phúc âm của nhóm Ngộ đạo. Trong số các sách phúc âm này cuốn nổi tiếng nhất là Phúc âm của Tôma.

 

Câu 8. Các sách ngụy thư Tân Ước có thể sẽ được công nhận là Kinh Thánh đích thực không?

Chúng ta phải trả lời câu hỏi này bằng những câu hỏi khác: Làm cách nào Giáo hội nhìn nhận một tác phẩm là Kinh Thánh? Do thẩm quyền nào và dựa trên nguyên tắc nào? Chính qui định của nhiều Giáo hội Tin lành không thể đưa ra lời tuyên bố có thẩm quyền nhìn nhận một Kinh Thánh mới. Giáo hội Công giáo Rôma công nhận có một thẩm quyền để thi hành công việc đó, nhưng nguyên tắc nhìn nhận sách Kinh Thánh của Công giáo là một trở ngại lớn. Tại Công đồng Trentô nguyên tắc chỉ đạo để công nhận các sách thuộc thư quy Kinh Thánh là cuốn sách đó phải được dùng trong các buổi đọc sách công cộng với một thời gian lâu dài và có tính cách phổ quát. Vì thế, cho dù một cuốn sách cổ xưa bị thất lạc nay tìm thấy, thí dụ như một lá thư do Phaolô viết, chính sự kiện sách đó không được sử dụng trong Giáo hội đã đủ để nói lên rằng sách đó sẽ không được công nhận thuộc thư quy. Nếu chúng ta hiểu Kinh Thánh theo nghĩa là bộ sách mà Giáo hội đã nhìn nhận là chứa đựng lời linh hứng của Thiên Chúa, thì một cuốn sách mới tìm được mà chưa bao giờ được dùng đến, sẽ không đủ tiêu chuẩn.

 

Câu 9. Các phúc âm ngụy thư có giá trị như thế nào?

Đôi khi các học giả tham gia vào việc khám phá hay phát hành những tác phẩm đã từng bị thất lạc trước đó không mấy hứng thú với chuyện quảng cáo giật gân, và dĩ nhiên, ngay cả khi các học giả không cộng tác thì báo chí lại thích những tin giật gân này. Nếu có thể nói cách tổng quát, với một chút mỉa mai, những độc giả không quan tâm tìm hiểu về Chúa Giêsu nơi các sách phúc âm thuộc thư quy lại nồng nhiệt đón nhận bất cứ tác phẩm nào nói đến việc Chúa Giêsu xuống khỏi thập giá, kết hôn với Maria Mađalêna, và đi sống hạnh phúc tại Ấn Độ!

Xin được trình bày một loạt những phán đoán của chính cá nhân tôi về những phúc âm ngụy thư được khám phá gần đây. (Đây là những phán đoán vững chắc và tôi nghĩ rằng có người xem đó là hẹp hòi nhưng tôi có thể biện hộ được). Không một phúc âm ngụy thư nào được khám phá gần đây đề cập một sự kiện về tiểu sử hay lịch sử cuộc đời Chúa Giêsu mà chúng ta đã không biết trước đó. Đôi khi, có thể một phúc âm mới được khám phá (nhất là cuốn Phúc âm của Tôma) cho chúng ta biết có một kiểu nói của Chúa Giêsu còn có trước kiểu nói nơi các phúc âm thuộc thư quy. Rất hiếm khi một phúc âm mới khám phá gần đây  có thể cống hiến cho chúng ta một câu nói của chính Chúa Giêsu nhưng câu nói này lại không được lưu lại trong các sách phúc âm thuộc thư quy. Ý tưởng cho rằng các sách phúc âm mới tìm ra gần đây cho chúng ta biết các Kitô hữu sơ khai (năm 30-70)  sống và suy nghĩ như thế nào, và đối lại, còn cho rằng các sách phúc âm thuộc thư quy trình bày một kiểu Kitô giáo mang nhiều tính gia trưởng và bị kiểm soát, làm mất đi sự tự do của các phong trào Kitô giáo sơ khai, thứ ý tưởng này thật là lệch lạc. Điều các phúc âm ngụy thư cho chúng ta biết là các Kitô hữu thế kỷ thứ II (và sau nữa) đã nghĩ thế nào về Chúa Giêsu, đã thêu dệt thêm những chi tiết về cuộc đời của Chúa vào chỗ các phúc âm chính thức còn trống, và họ đã dùng Chúa Giêsu như phát ngôn viên của chính nền thần học của họ. Một số trong các phúc âm ngụy thư trình bày các tư tưởng trên hay đến nỗi các giáo phụ đã xem đó là chính thống; một số khác lại bị lên án là lạc giáo. Tóm lại, để trả lời câu hỏi về giá trị của các phúc âm ngụy thư vừa được khám phá gần đây, tôi xin thưa rằng: các sách ấy có giá trị giúp chúng ta hiểu nhiều khía cạnh của các phong trào Kitô giáo vào các thế kỷ thứ II, III và IV. Chúng không có giá trị về chứng cớ lịch sử của Chúa Giêsu hoặc của Kitô giáo trước khi Phêrô và Phaolô tử đạo vào những năm 60.

 

Câu 10. Hình như tôi có nghe rằng một vài phúc âm ngụy thư có ảnh hưởng lớn trên các suy tư Công giáo. Điều đó có đúng không?

Có lẽ quý vị còn nhớ rằng khi tôi trả lời về ngụy thư Tân Ước (câu 7) tôi đã phân biệt giữa các sách được biết và sao chép lại từ cổ xưa và những sách của phái Ngộ đạo mới được khám phá gần đây. Trong nhóm thứ nhất, tôi có đề cập đến Tiền Phúc âm của Giacôbê, có lẽ sách này có từ giữa thế kỷ II, đã được sao chép lại và dùng trong Giáo hội qua các thế kỷ. Tác phẩm này có ảnh hưởng lớn trên cách trình bày của Kitô giáo về Đức Maria, vì sách này đã trình bày cách tưởng tượng nguồn gốc của Đức Maria trước lúc truyền tin của thiên thần Gabriel. Bắt nguồn từ sách này mà cha mẹ Đức Maria có tên là Gioakim và Anna. Cũng từ đó có truyền thuyết Đức Maria được dâng vào đền thờ lúc còn thơ ấu - trở thành ngày lễ kính trong Giáo hội Công giáo và được rất nhiều họa sĩ vẽ lại trong các bức họa trưng bày tại các phòng triển lãm mỹ thuật trên khắp thế giới. Cũng từ đó chúng ta có câu chuyện Giuse như một ông già tay cầm nhánh bông huệ, vì cây gậy của ngài đã nở hoa như dấu chỉ được kết hôn với Đức Maria.

Lại nữa, câu chuyện Đức Maria dâng mình vào đền thờ cũng là một cơ hội để chúng ta cân nhắc kỹ càng hơn về giá trị của một cuốn phúc âm ngụy thư phổ thông như thế. Chắc chắn là một bé gái như Maria không thể được trao cho vị thượng tế để ở trong đền thờ cho đến tuổi cập kê như sách Tiền Phúc âm diễn tả. Đó chỉ là một thể văn hoa mỹ có tính cách kể chuyện muốn nhấn mạnh một sự thật được Luca lồng vào trong sách phúc âm chính thức. Thiên thần Gabriel nói cùng Maria (Lc 1,28.30) như nói với một người đã được ân sủng của Thiên Chúa (thì quá khứ). Maria xưng mình là nữ tì của Thiên Chúa (Lc 1,38.48). Trong khi việc thụ thai của Con Thiên Chúa lúc truyền tin là ân huệ của chính Thiên Chúa ban tặng cho Đức Maria, ân huệ này đến với một người đã từng sống trong tình trạng ân sủng của Thiên Chúa rồi. Tại sao? Bởi vì Đức Maria đã tự đặt mình trong tư thế một nữ tì (tôi tớ) của Thiên Chúa. Biến cố truyền tin không phải là lần đầu tiên Đức Maria nói lên, ít là tự lòng mình, rằng: “Này tôi là nữ tì của Thiên Chúa. Tôi xin vâng như lời Thiên thần phán truyền” (Lc 1,38). Tiền Phúc âm đã ‘kịch hóa’ (dramatized) sự kiện này bằng cách nói rằng Maria được đưa vào đền thờ và hiến dâng cho Thiên Chúa ngay từ tuổi thơ ấu. Cách trình bày này có thể dễ hiểu hơn nhiều trên lãnh vực bình dân hơn là trong một cuộc tranh luận thần học khi bàn về thì quá khứ của động từ Hy Lạp “được sủng ái” (favored).

Q. 5. But don't Catholics and Protestants have a different Bible in the sense of contents?

    So far as the New Testament is concerned both Catholic and Protestant Bibles have the same number of books (27) in the same order. (That was not true of the early editions of Luther's translation of the New Testament, so far as order is concerned; but Luther's change of the order of the books is a footnote of history.) The difference ties in the Old Testament. To oversimplify, Jews and most Protestants have a Testament containing 39 books, while the Catholic Old Testament contains 46 books. I say "oversimplify" because the Church of England or Episcopal Church position is not unanimous (and one could debate whether the Anglican Church should be classified in the Protestant camp). Indeed many Protestant churches have never committed themselves officially to the number of Old Testament books. Another ambiguity is that the Orthodox  and  Eastern  Churches  at  times  have  agreed  with the longer canon that Catholics use or have proposed an even larger canon.

 But if we simplify and talk about the Protestant and Catholic position, the seven books that are in the Catholic Old Testament and lacking in the Protestant Old Testament are called by  Catholics deuterocanonical books-admittedly a mouthful. They are often called by Protestants the Apocrypha. They consist of Tobit, Judith, 1-2 Maccabees, Wisdom (of Solomon), Sirach (Ecclesiasticus), and Baruch (including the Epistle of Jeremiah); and for good measure one should throw in parts of Esther and Daniel. The issue is quite complex, but overall one may say that these are books that were preserved in Greek, not in Hebrew or Aramaic. (Some of them were originally written in Hebrew or Aramaic-large parts of the Hebrew Sirach have now been discovered-but not preserved in those languages.) They became known to Christians through the Septuagint, that is, the Greek translation made by Jews before Christ which became the commonly accepted Bible of the Early Church.

 

In their desire to translate from the original languages, the Reformers grew very suspicious of these books which were not available in Hebrew or Aramaic and for the most part rejected them. The issue was further complicated because Catholic theologians resorted to these books for support for doctrines that the Reformers rejected. For instance, the prayer of Judas Maccabeus and his men in 2 Macc 12:42-46 that the sinful deeds of the deceased soldiers might be blotted out in light of the resurrection of the dead was interpreted as support for purgatory. One Reformation response was to discredit that book as Scripture.

 

Q. 6. Will there ever be agreement on the Old  Testament books that the Protestants do not accept?

   

I cannot conceive that in the foreseeable future there will be an official statement by a Protestant church body that it now accepts the seven disputed Old Testament books as canonical Scripture. Most Protestant churches would find it difficult to agree on an authority that could make such a statement. Since the Roman Catholic Church has officially committed itself at the Council of Trent to these books as Scripture, there is no chance that there will be a change in the Catholic position.

 

But having presented the bad news, let me turn to the good news. As with many sharp controversies of the 16th century, we are often finding a way around head-on  confrontation - an "end run," if one may use football parlance. Many Bibles that are produced under Protestant auspices now contain the seven books (plus the parts of Esther and Daniel) under the name Apocrypha; for instance both The Revised Standard version and The New English Bible are published in "Complete Bible" forms containing these books. Generally, they are not mixed in with the books that all consider canonical, as they are in Catholic Bibles, but published as a section either between the two Testaments (the better choice) or at the end, after the New Testament.

 

 This inclusiveness is not a statement that they are canonical Scripture but a recognition of two ecumenical facts. The first is that Catholics now read Protestant Bibles and want what they consider a complete Bible. The second is that Catholics and Protestants study the Bible together, and these books are extremely important for the understanding of early Judaism (the Judaism that began after the exile in Babylon in 587-539 B. C.) and for the New Testament. They were written much closer to Jesus' time than many books of the universally accepted Old Testament, and they contain instances of ideas and outlooks that he accepted. (For instance, both the Books of the Maccabees and the Book of Wisdom testify to a belief in life after death.) Thus these books are necessary for the study of Scripture. As Protestant readers and students become familiar with the deuterocanonical writings, some of the old suspicions begin to disappear; and they are not looked on as hostile weapons in the hands of adversaries. By the way, it is interesting to note that next to the Psalms, Sirach (Ecclesiasticus) was the Old Testament book most used by the Church Fathers, for they found in it a mine of ethical teaching that could be of service for Christian instruction.

 Q. 7. You said that Protestants and Catholics agree on the books of the New Testament. What about the apocryphal gospels that I hear about?

   Your question helpfully reminds me that there are two senses in which the word "apocrypha" is used. It is used in Protestant parlance for the seven deuterocanonical books that I have just been discussing-the Old Testament books that Catholics accept as Scripture and Protestants do not. (Again I remind you that this is a shorthand identification.) But the term is used more widely of Jewish and Christian books that neither Catholics nor Protestants consider as Scripture. "Apocrypha" include Jewish books like Enoch, Jubilees, and I V Ezra that were not accepted in the commonly agreed on canonical Scriptures known to us, even though some of them were accepted in the Ethiopic Church. The term "Apocrypha" is also applied to Christian works, including gospels that were not accepted into the canon. Some of these have been preserved from antiquity. I think particularly of The Protevangelium of James, which is very important for understanding Christian attitudes toward the infancy of Jesus. (See Q.10, 67, 68 below.) Some of the apocryphal gospels, although known in antiquity, have been lost and only rediscovered in modern times. A famous one is part of The Gospel of Peter which is an imaginative narrative of the passion. In particular, in the late 1940s, there was  discovered in Egypt at Nag Hammadi or Chenoboskion a collection of (mostly gnostic) writings which were popularly, but  inaccurately, touted as gnostic gospels. Among them there is an occasional gospel, the most famous of which is The Gospel of Thomas.

 

Q. 8. Is there a chance that any of the New Testament apocrypha will one day be recognized as genuine Scripture?

   Here I must answer a question with questions. How does a church recognize works as Scripture? Is there an authority in the church to do this? On what principles? The very constitution of many Protestant churches would make impossible an authoritative statement recognizing new Scripture. The Roman Catholic Church has an acknowledged authority that could take such an action, but the Catholic principle for recognizing Scripture would forbid it. At the Council of Trent the guiding principle for acknowledging canonical Scripture was the long and universal use of books in the church for public reading. Therefore, even if a lost ancient book is discovered, for instance a letter genuinely written by Paul, the very fact that such a book has not been read in the church should mean that it would not be accepted as canonical. If we understand Scripture as the collection of books to the authority of which the church has agreed to bind itself because it has recognized in them God's inspired word, then a newly found book never previously used does not fit the criterion.

 

Q. 9. How valuable are the apocryphal gospels?

   Sometimes scholars who are involved in either the discovery of hitherto lost works or the publication of them are not above sensational announcements; and, of course, even without their cooperation the press enjoys sensationalizing. If I may generalize, with a hint of cynicism, readers who have no interest in working through the canonical Gospels to learn about Jesus seem to be entranced by any new work that might hint that Jesus came down from the cross, married Mary Magdalene, and went off to live happily in India!

Let me give you a series of my judgments on recently discovered apocryphal gospels. (They are firm judgments and I suspect some will regard them as narrow, but I think they can be defended.) No recently discovered apocryphal gospel tells us a single biographical, historical fact about the life of Jesus that we have not known previously. Occasionally, a recently discovered gospel (especially the Gospel of Thomas) may give us a form of a saying of Jesus earlier than the form preserved in the canonical Gospels. Very rarely a recently discovered gospel may give us an authentic saying of Jesus that was not preserved in the canonical Gospels. The idea that recently discovered gospels tell us what the earliest Christians (A.D. 30-70) were like or thought, and that by contrast the canonical Gospels represent a highly censored and patriarchal version of Christianity, suppressing the freedom of the earliest Christian movements, is a distortion. What the apocryphal gospels do tell us is how Christians of the second century (and even later) thought about Jesus, how they filled in imaginatively details of his life where the canonical Gospels had left lacunae, and how they made him the spokesman of their own theology. Some of these gospels do so in a manner that the Church Fathers regarded as orthodox; some do it in a manner that they regarded as heretical. Thus to answer your question about whether the recently discovered apocryphal gospels have value, I would say yes-they have value for helping us to understand the many-faceted Christian groups of the second and third and fourth centuries. They have practically no value for giving us historical information about Jesus or about Christianity before the deaths of Peter and Paul in the 60s.

 

 

Q.10. I thought I had heard that some of the apocryphal gospels had major influence on Catholic thought. Is that true?

   

Perhaps you remember that when I first began responding about the New Testament apocrypha (Q. 7 above), I made a distinction between those known and copied from antiquity and the gnostic works recently discovered. In the first group I mentioned The Protevangelium of James, probably to be dated from the mid-second century, which was copied and used in the church through the centuries. That work had great influence on the Christian portrayal of Mary, for it tells imaginatively of her background before the annunciation by Gabriel. From it came the names of Mary's parents, Joachim and Anne. From it also came the story of Mary being presented at the Temple at an early age-a presentation that has become a feast of the Catholic Church and has been portrayed by countless artists in paintings found in the art galleries of the world. From it, too, has come the portrayal of Joseph as an elderly man carrying a lily, since his staff is said to have blossomed as a sign that he was the one to be awarded Mary's hand in marriage.

 

The presentation of Mary, by the way, provides a chance to think maturely about the value of such a popular apocryphal gospel. Surely a female child like Mary would not have been brought to the high priest to live in the Temple precincts till the age of puberty, as The Protevangelium portrays. Yet this is an imaginative, narrative way of emphasizing a truth already implied by Luke in the canonical Gospel. The angel Gabriel speaks to Mary (Luke 1:28, 30) as to one who has already been "favored" by God (past tense); Mary speaks of herself as the handmaid (servant) of the Lord ( 1:38, 48). While the  conception of God's Son at the annunciation was the principal favor or grace given by God to Mary, it came to one who had already been the subject of God's favor. Why? Because she had already subjected herself to God as His servant or handmaid. The annunciation was not the first time in Mary's life that she had said, at least in her heart, "Behold the handmaid of the Lord; be it done to me according to your word" (Luke 1:38). The Protevangelium has dramatized this by showing Mary presented and dedicated to God from her earliest youth. That  dramatization would be understood on a popular level far more effectively than could a theological discussion of the  implication to be derived from the past tense of the Greek verb for "favored."