Câu 38. Khi được hỏi về lịch sử tính của Tân Ước, câu trả lời của cha phần lớn liên quan đến các thư của Phaolô và tác giả tính của các thư đó. Còn các Phúc âm thì sao? Chân dung của Đức Giêsu trong Phúc âm đáng tin cậy đến mức độ nào?

Rất thường câu trả lời tổng quát là các Phúc âm không phải là những cuốn tiểu sử, và nói chung thì điều đó đúng. Thông thường, ý định đầu tiên của một nhà viết tiểu sử là viết hết về cuộc sống của một cá nhân, ghi lại hết những gì chúng ta có thể biết về người ấy. Hai Phúc âm MáccôGioan đã không nói gì về nguồn gốc, sinh nhật, hay cuộc đời niên thiếu của Chúa Giêsu trước khi gặp Gioan Tẩy Giả. Máccô không bao giờ nhắc đến tên người cha theo luật pháp của Chúa Giêsu (Giuse) và Gioan không bao giờ nhắc đến tên người mẹ của Chúa Giêsu (Maria - dĩ nhiên là ông có nói đến “Mẹ của Giêsu” nhưng không bao giờ nói tên của bà. Nếu chỉ có Gioan viết thôi thì chúng ta sẽ không bao giờ biết tên Maria của Đức Mẹ). Những thiếu sót này cho thấy sự vắng mặt của nhiều dữ liệu để làm thành một tiểu sử mà các tác giả Phúc âm đã phải dùng, nếu họ muốn viết tiểu sử của Chúa Giêsu.

Tuy nhiên, tôi muốn đưa ra nhận xét là: nói chung, trong khi những Phúc âm khác không phải là những tiểu sử, thì Phúc âm Luca, vì được liên kết với cuốn Công vụ Tông đồ là cuốn kể lại lịch sử theo nghĩa rộng của Giáo hội sơ khai, và bởi vì Công vụ có vẻ như là một cuốn tiểu sử vì có kể chuyện thụ thai, sinh ra và thời niên thiếu của Chúa Giêsu, nên Phúc âm Luca có vẻ gần giống cuốn tiểu sử hơn là các Phúc âm khác. Cũng vậy, tuy không trình bày toàn bộ cuộc đời Chúa Giêsu, nhưng các Phúc âm cũng cho chúng ta biết một vài dữ liệu lịch sử liên quan đến hoàn cảnh cuộc đời, giáo huấn và công việc của Ngài. Do đó, lời tuyên bố các Phúc âm không phải là những tiểu sử không được đưa đến kết luận rằng những chân dung mô tả [về Chúa Giêsu] không chỉ đơn thuần là những lượng giá thần học, đó là những giải thích về một cuộc sống, những lời nói và việc làm có thật. 

Câu 39. Tôi đã lớn lên trong khung cảnh được đọc nhiều sách về cuộc đời của Đức Kitô nơi trường học và các dịp cấm phòng. Cha vừa đề cập rằng Chúa Giêsu đã có một cuộc sống thực sự. Tuy nhiên, hình như tôi thấy ngày nay chúng ta có rất ít sách kể cuộc đời của Đức Kitô. Sự thay đổi này xảy ra khi nào?

Bạn có lý khi giả định rằng có sự liên kết giữa việc coi các sách Phúc âm như là tiểu sử và việc viết về cuộc đời Đức Kitô. Nếu các sách Phúc âm không được coi như sách tiểu sử cũng không là lịch sử thuần tuý thì khuynh hướng thu thập những gì chúng ta biết về Chúa Giêsu để viết thành “một cuộc đời” sẽ giảm đi nhiều, vì các nhà chuyên môn nhận thấy rằng những lỗ hổng về các chứng cớ sẽ khiến người ta nhụt chí thực hiện mục đích này. Vậy, ở một mức độ nào đó, câu trả lời cho câu hỏi khi nào chúng ta bắt đầu bớt đề cập đến tiểu sử và không còn hướng những suy nghĩ của chúng ta trực tiếp về cuộc đời của Chúa Kitô, tùy thuộc vào quan niệm “chúng ta” là ai. Sự thay đổi cách tiếp cận các Phúc âm là kết quả của khoa phê bình Kinh Thánh hiện đại, và các nhà học giả Tin lành lỗi lạc đã áp dụng khoa phê bình vào Phúc âm ngay từ thế kỷ trước. (Về khái niệm phê bình, xin nhắc bạn đọc câu trả lời 28 trên đây). Người Công giáo Rôma đi muộn hơn trong việc chấp nhận một phương pháp phê bình hiện đại áp dụng vào Tân Ước và các Phúc âm. Tuy nhiên, như thường xảy ra là một khi những người Công giáo chúng ta, sau một thời gian dài do dự, chấp nhận những phương pháp mới, chúng ta luôn luôn làm việc với sự xác nhận chính thức của Giáo hội về lập trường của chúng ta. Những người Tin lành đã dùng những phương pháp của họ trước khi chúng được người Công giáo chấp nhận, nhưng các Giáo hội Tin lành đã không có sự gắn bó chính thức với những phương pháp ấy như những người Công giáo chúng ta đang có.

Cách riêng, trong thời điểm ngay trước và giữa Công đồng Vatican II nhóm họp, đã có tranh cãi mạnh mẽ và gay gắt về các Phúc âm và lịch sử tính của chúng trong giới Công giáo chính thức. Việc này đã được đúc kết vào năm 1964 khi Ủy ban Giáo hoàng về Kinh Thánh (lúc bấy giờ là cơ quan giáo huấn chính thức của của Giáo hội với thẩm quyền đức tin một khi được Đức Giáo hoàng chuẩn y) đã ra một tài liệu  “Sự thật lịch sử của các Phúc âm”. (Một phần cốt yếu của tài liệu này được in lại trong cuốn Biblical Reflections on Crises Facing the Church, NXB New York Paulist, 1975, trang 111-115). Những nhà chuyên môn góp phần trong tài liệu này đã thử áp dụng một phương pháp trung dung để lôi kéo các đồng nghiệp Tin lành cũng như Công giáo. Họ đưa ra một hình ảnh về sự phát triển của Phúc âm, dẫn đến kết luận là các Phúc âm không phải là những trình thuật văn chương về sứ vụ Đức Giêsu, cũng không kể lại các tài liệu chỉ để ghi nhớ mà thôi. Tôi rất thích cách dùng chữ của kết luận này, và tôi nghĩ là nhiều nhà chuyên môn Tân Ước khác cũng đồng ý như vậy.

 

Câu 40. Cha có thể nói rõ ràng hơn được không? Nếu cha nói các Phúc âm không phải là những trình thuật văn chương về sứ vụ của Chúa Giêsu và chúng không phải là những tiểu sử, vậy các Phúc âm là gì? Chúng ta phải hiểu chúng như thế nào?

Tôi không giấu bạn là các nhà chuyên môn có nhiều câu trả lời khác nhau cho câu hỏi này. Tôi sẽ trả lời theo dàn bài của tài liệu Ủy ban Giáo hoàng về Kinh Thánh vừa nêu trong câu giải đáp trên. Nhờ đó, ít là bạn có thể thấy cách thức toàn bộ ủy ban các chuyên viên tiếp cận vấn đề như thế nào, và câu trả lời của tôi phù hợp với lập trường đã được Giáo hội Công giáo Rôma chấp nhận. Câu trả lời này có thể sẽ dài một chút, nhưng tôi nghĩ rằng bạn có thể theo dõi được, nếu tôi bắt đầu bằng việc phân rõ cho bạn rằng có ba giai đoạn trong tiến trình phát triển truyền thống về Đức Giêsu đưa đến việc hình thành các Phúc âm.

Giai đoạn một bắt đầu với cuộc đời công khai của Chúa Giêsu: thời gian hoạt động tại Galilêa và vùng phụ cận, ở đó Chúa rao giảng và chữa lành bệnh tật. Phương thức này nhấn mạnh rằng Chúa Giêsu đã làm những việc quan trọng, và đã dùng lời nói rao truyền sứ điệp của Ngài để các môn đệ (nhất là những người cùng đồng hành với Ngài) nghe và thấy những gì Ngài nói và làm. Điều quan trọng là chúng ta phải nhấn mạnh rằng những lời nói và hành động của Chúa Giêsu là những lời nói và hành động của một người Do Thái vùng Galilêa sống vào khoảng 30 năm đầu của thế kỷ thứ I; cách Ngài nói, những vấn đề Ngài gặp phải, ngôn ngữ cũng như quan niệm của Ngài là của một người Do Thái Galilêa trong một thời điểm riêng biệt. Những thất bại trong khi tìm hiểu Chúa Giêsu và áp dụng sai lầm những tư tưởng của Ngài đều do sự kiện là người ta đã đưa Ngài ra khỏi không gian và thời gian, và tưởng tượng rằng Ngài đang giải quyết những vấn đề mà Ngài chưa bao giờ gặp phải.

Giai đoạn hai trong tiến trình phát triển truyền thống về Đức Giêsu đưa đến việc hình thành các Phúc âm là giai đoạn rao giảng sau khi Chúa Giêsu chết và sống lại. Nếu bạn muốn có yếu tố thời gian vào những giai đoạn này, thì ở trên, tôi cũng đã đặt giai đoạn một vào thời điểm phần ba đầu của thế kỷ thứ I, và tôi đặt việc rao giảng của giai đoạn hai này vào phần ba thứ hai của thế kỷ đầu (cho đến khoảng năm 65). Những người đã nghe và thấy Chúa Giêsu đã đồng lòng chấp nhận Ngài qua sự kiện phục sinh và đã tin vào Ngài dưới nhiều danh hiệu (Thiên Sai/Kitô, Chúa, Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa, v.v). Khi rao giảng về Chúa Giêsu, họ đã triển khai rộng hơn trình thuật mà họ đã nghe và thấy dưới ảnh hưởng của đức tin mà nay họ đã có, đức tin này soi sáng cho họ thêm về ý nghĩa của những sự kiện trong quá khứ. Do đó,  không chỉ cố gắng tường thuật lại sự kiện một cách đơn giản và không màu mè, đúng hơn, việc tường thuật đã được soi sáng bởi niềm tin mà các người giảng thuyết muốn chia sẻ.

Chắn chắn là có những người khác đã không nghe hay không thấy Chúa Giêsu, nhưng lại tham gia vào công việc loan báo dựa trên điều mà họ nhận lãnh từ những chứng nhân tận mắt thuở ban đầu, và như thế việc rao giảng nối kết những chuyện kể do các chứng nhân tận mắt cũng như chứng nhân gián tiếp. Chúng tôi không đoán mò đâu: nơi 1Cr 15, Phaolô sau khi liệt kê ra một loạt những truyền thống vế sự chết, việc an táng, sống lại, và hiện ra (1 Cr 15,3-5), thì đã nhắc đến Kêpha (Phêrô) và Nhóm Mười hai (là những chứng nhân tận mắt) và cũng đã tự nhắc tên mình (là người đã không chứng kiến tận mắt sứ vụ Chúa Giêsu). Rồi ngài nói tiếp cho những người đọc thư: “Dù là họ hay tôi, chúng tôi đều rao giảng và anh chị em đã tin theo”.

Ngoài việc rao giảng, được phong phú hoá qua đức tin, cũng như qua những người không được xem như những chứng nhân tận mắt thêm vào, một yếu tố khác chính là nhu cầu thích nghi công cuộc truyền giảng cho một cử tọa mới. Nếu Chúa Giêsu là một người Do Thái vùng quê Galilêa sống vào những năm thuộc 1/3 đầu thế kỷ thứ I thì Phúc âm lại được rao giảng trong các đô thị cho những người Do Thái và dân ngoại. Rồi dần dần Phúc âm được rao giảng bằng tiếng Hy Lạp, là ngôn ngữ mà Chúa Giêsu không thường sử dụng tại Galilê (nếu Ngài có biết nói tiếng ấy đi nữa). Những yếu tố trên ngụ ý có một sự phiên dịch quy mô theo nghĩa rộng của từ này, và sự phiên dịch này, với mục đích giúp cho sứ điệp dễ hiểu và sống động cho những cử tọa mới, là một phần trong tiến trình phát triển của truyền thống Phúc âm.

Giai đoạn ba  là giai đoạn thực thụ ghi chép các sách Phúc âm như chúng ta có ngày nay. Tôi đặt giai đoạn này vào phần ba cuối cùng của thế kỷ thứ I. Máccô khoảng năm 70, Mátthêu và Luca trong những năm 80-90, và Gioan ở thập niên 90 – tất cả mốc thời gian này chỉ là ước đoán và độ sai lệch là 10 năm. Có những phần trong truyền thống về Chúa Giêsu có thể đã được viết ra trước khi các tác giả Phúc âm soạn thảo Phúc âm của mình, nhưng không có một thủ bản Tiền-Phúc âm nào còn giữ lại. Chìa khoá để hiểu giai đoạn ba này là hầu như không có tác giả Phúc âm nào đã là chứng nhân tận mắt của sứ vụ Đức Kitô. Tất cả đều thuộc về thành phần gọi là Kitô hữu thế hệ thứ hai. Họ đã nghe người khác nói về Chúa Giêsu và sắp xếp truyền thống mà họ nhận được thành văn bản Phúc âm. Nhận xét này giúp chúng ta giải quyết rất nhiều vấn đề đã làm điên đầu thế hệ các nhà chú giải tiên phong. Họ nghĩ rằng một vài tác giả Phúc âm đã mục kích điều họ ghi lại. Nếu hiểu theo bối cảnh này thì cần dung hòa một Gioan đã ghi lại nơi chương 2 biến cố tẩy uế đền thờ lúc khởi đầu sứ vụ, và một Mátthêu đã ghi lại nơi chương 21 biến cố đó lúc kết thúc sứ vụ, bằng cách cho rằng có hai lần tẩy uế đền thờ, và mỗi tác giả đã chọn chỉ tường thuật một lần mà thôi. Theo bối cảnh mà tôi đề nghị, nghĩa là không tác giả nào là chứng nhân tận mắt, thì mỗi tác giả nhận được một kiểu tường thuật việc tẩy uế từ truyền thống về Đức Giêsu. Cả hai đều không biết là việc đó thực sự xảy ra lúc nào trong thời gian sứ vụ [Chúa Giêsu] vì họ không có mặt lúc đó. Nhưng họ đã cho biến cố này vào trong bản văn Phúc âm ở thời điểm mà họ xem là tốt nhất trong toàn bộ Phúc âm. Tôi có thể trưng ra 10 thí dụ khác, trong đó phương pháp đặt cơ sở trên các chứng nhân tận mắt, áp dụng trong việc xác định các tác giả Phúc âm, đã gây nên lý thuyết trùng lập hay những lối giải thích không thoả đáng. Trong khi đó phương pháp đặt cơ sở trên những người không phải là chứng nhân tận mắt lại đem đến một giải đáp rất đơn giản, vì phương pháp này giải thích rõ ràng rằng các Phúc âm thường là có chung một dữ liệu nhưng lại hay sắp đặt các dữ liệu đó theo những kiểu hoàn toàn khác nhau. Kết luận cuối cùng là nhận định cho rằng các Phúc âm đều có một trật tự hợp lý nhưng không nhất thiết là có cùng trật tự thời gian. Mỗi tác giả sắp đặt tài liệu theo tầm mức hiểu biết của mình về Chúa Giêsu và theo ý muốn cá nhân để trình bày chân dung của Chúa theo nhu cầu thiêng liêng của cộng đoàn mà ông nhắm đến khi viết Phúc âm. Do đó, từng cá nhân tác giả đều là những tác giả thực sự của từng cuốn sách khi họ xếp đặt, khai triển, cắt tỉa truyền thống và cũng là những nhà thần học thực sự khi họ hướng truyền thống đó vào một mục tiêu riêng biệt.

Tóm lại, trong câu trả lời tổng quát về câu hỏi các sách Phúc âm là gì, tôi muốn diễn tả một Phúc âm như chứa đựng cái tinh túy của truyền thống về Chúa Giêsu bao gồm cả ngôn từ, việc làm, cuộc khổ nạn, cái chết và Phục sinh của Ngài. Việc tinh lọc này đã được sắp đặt, soạn thảo và nhuận chính do một tác giả Phúc âm ở cuối phần ba của thế kỷ thứ I để cung ứng cho nhu cầu thiêng liêng của các độc giả Kitô giáo mà ông đã mường tượng ra. Đó chính là lý do tại sao tài liệu của Ủy ban Giáo hoàng về Kinh Thánh, mà tôi đã dùng để phác họa ba giai đoạn trên đây, có thể kết luận rằng các Phúc âm có tính lịch sử nhưng không phải là một bộ hồi ký chính xác hay một trình thuật sát chữ.

 

Câu 41. Phương pháp khảo sát hiện đại về Phúc âm, như là sản phẩm của việc khai triển truyền thống có kết quả thực tiễn nào trên việc sử dụng Phúc âm cho đàng thiêng liêng không?

Xin được phép trả lời bằng một thí dụ thực tiễn. Chúng ta chỉ cần mở cuốn Sách Bài Đọc Chúa nhật (là sách các bài đọc Cựu và Tân Ước mà chúng ta dùng trong phụng vụ tại nhà thờ). Một cách tổng quát đây là bộ sách đã được nhiều giáo hội Kitô giáo khác nhau chấp nhận. Trong Giáo hội Công giáo Rôma, trước khi có cuốn Bài Đọc Chúa nhật đang lưu hành, mỗi năm chúng ta lại được nghe 52 bài đọc giống nhau trong các Chúa nhật. Các bài đọc Phúc âm này đựợc xếp lẫn lộn, không có sự phân biệt, chẳng hạn như Chúa nhật này thì nghe Mátthêu, Chúa nhật sau lại nghe Luca, nhưng ít khi được nghe Máccô. Theo kinh nghiệm đời linh mục của tôi, rất thường khi giảng về một đoạn Phúc âm, chẳng hạn dụ ngôn về người gieo giống, người ta không nhấn mạnh là đoạn trích dẫn đó xuất phát từ Phúc âm nào. Lý do là vì cả người giảng lẫn người nghe có cảm tưởng rằng xuất xứ của đoạn văn không làm thay đổi ý nghĩa của đoạn văn đó - Chúa Giêsu đã nói dụ ngôn này và các tác giả Phúc âm chỉ là người thuật lại thôi.

Trái lại, trong cuốn Bài Đọc mới với chu kỳ 3 năm, các bài đọc Phúc âm năm đầu lấy từ Mátthêu, năm thứ hai từ Máccô và năm thứ ba từ Luca. Các bài đọc lấy từ Phúc âm Gioan được dùng cho những mùa đặc biệt, như mùa Chay và Phục Sinh. Sự sắp đặt này đặt nặng tầm quan trọng chỗ đứng của một đoạn trích đặc biệt (tức là đoạn Phúc âm của ngày) trong toàn bộ cuốn sách, bởi vì mạch văn của cả cuốn sách làm trọn ý nghĩa của đoạn đó. Thí dụ, phép lạ hoá bánh được bốn Phúc âm kể lại; nhưng mỗi trình thuật mang một ý nghĩa khác nhau tùy theo cách suy luận của tác giả. Có lẽ không phải diễn giả nào cũng ý thức vấn đề này; nhưng sự sắp đặt của cuốn Bài Đọc đòi hỏi chúng ta phải để ý đến yếu tố đó.

 

Câu 42. Cha vừa nói là các tác giả Phúc âm không phải là chứng nhân tận mắt. Chúng ta đã được học là Mátthêu và Gioan đã viết Phúc âm, và hai vị này chắc chắn đã chứng kiến tận mắt sứ vụ của Chúa Giêsu.

Phản ứng này tôi thường nghe từ những người Công giáo và điều đó cũng dễ hiểu vì chúng ta đã được dạy những điều như vậy, ít là cho đến khoảng năm 1960. Từ đầu những năm 1900, Ủy ban Giáo hoàng về Kinh Thánh của Giáo hội Rôma đã đưa ra những câu giải đáp chính thức cho một số vấn nạn nẩy sinh do sự phát triển của khoa phê bình Kinh Thánh, đặc biệt là nơi người Tin lành. Ủy ban này nhấn mạnh rằng, theo cơ bản, cuốn Phúc âm xuất hiện đầu tiên trong Tân Ước là công trình (có lẽ trong bản dịch) của Mátthêu, một trong Nhóm Mười hai, và cuốn thứ tư là công trình của Gioan, cũng là một trong Nhóm Mười hai. (Cũng có những giải pháp cho những vấn nạn về Cựu Ước: Maisen viết Ngũ thư; bộ sách Isaia là một cuốn; sách Daniel được viết vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên).

Tuy nhiên, như tôi có đề cập đến trong câu 24, vào giữa thập niên 1950, thư ký của Ủy ban Giáo hoàng về Kinh Thánh đã cắt nghĩa rằng ngày nay người Công giáo được hoàn toàn tự do đối với những phán quyết nói trên, ngoại trừ khi liên quan đến đức tin và luân lý (thật sự những phán quyết trên không liên quan một cách căn bản đến hai phạm vi này). Điều này có nghĩa là nếu trước đây giáo huấn Công giáo về lý lịch của các tác giả Phúc âm tùy thuộc chặt chẽ vào giải đáp chính thức của Giáo hội, thì nay không còn như vậy nữa. Ngày nay, người Công giáo cũng được tự do như những người khác khi phát biểu quan điểm của họ về căn cước [lý lịch] của các tác giả Phúc âm. Tiện thể, có thể nói rằng việc thay đổi về một lập trường đã từng được bảo vệ vững chắc, cho thấy mối nguy cơ nại đến quyền bính Giáo hội trong việc phải giải quyết ổn thoả những vấn đề tự căn bản là khoa học, những vấn đề không thuộc về giáo lý, nhưng thuộc về tác giả, ngày tháng, và việc soạn thảo. Đức tin và luân lý là phạm vi riêng biệt của Chúa Thánh Thần trong việc hướng dẫn Giáo hội.

Có thể khoảng 95% các nhà phê bình cận đại quan niệm rằng các tác giả Phúc âm không phải là chứng nhân tận mắt sứ vụ công khai của Đức Giêsu. Sắc lệnh của Ủy ban Kinh Thánh năm 1964 (xem câu 40) đã không đi sâu vào lý lịch của các tác giả Phúc âm, mặc dầu cũng đã minh nhiên diễn tả họ khác với những vị đã rao giảng vào giai đoạn hai, và như thế đã ngầm tạo nên một sự khác biệt giữa các tác giả Phúc âm và những nhà rao giảng, mà trong số này có một vài vị đã cùng đồng hành với Chúa Giêsu. Tuy nhiên, tôi cũng phải nhắc nhở quý vị rằng Giáo hội đã không ngừng và sẽ không ngừng sử dụng từ ngữ cổ kính “các Tông đồ và những người thuộc thế hệ Tông đồ” để diễn tả các tác giả Phúc âm, không phải bằng cách dạy rằng họ là những chứng nhân tận mắt, nhưng bằng cách nhấn mạnh sự liên hệ giữa công trình của họ và các Tông đồ đã chứng kiến tận mắt.

Tôi cũng xin thêm là những kiểu nói xuất xứ mà các bạn nghe trong Tân Ước, như “Phúc âm theo thánh Mátthêu” (chú ý đến từ “theo” trong kiểu dùng lâu đời nhất chứ không phải từ “của”), là kết quả của việc nghiên cứu học hỏi vào cuối thế kỷ thứ II cố gắng tìm cho ra tác giả của những tác phẩm không rõ lý lịch. Không tác giả Phúc âm nào tự giới thiệu mình là ai. Chi tiết gần nhất trong việc xác định tác giả trong vấn đề này là trong Phúc âm thứ tư có nói rằng một nhân chứng, “người môn đệ Chúa Giêsu yêu mến,” là nguồn tài liệu của những gì được viết ra trong sách Phúc âm (Ga 21,24), nhưng Phúc âm này không bao giờ nói rằng ai là người môn đệ Chúa Giêsu yêu mến. Vào thế kỷ thứ I nếu có ai hỏi “Phúc âm của ai vậy?” thì câu mở đầu trong cuốn mà ngày nay gọi là sách Phúc âm theo thánh Máccô, có lẽ là chìa khoá để trả lời. Tác giả viết “Khởi đầu Phúc âm của Chúa Giêsu Kitô”.

 

Câu 43. Cha đã trình bày một quan niệm cho rằng truyền thống từ Chúa Giêsu đã được biến đổi và khai triển trong những giai đoạn trước khi có sách Phúc âm. Vậy chúng ta không có liên quan đến một loại phát triển tương tự như vậy kể từ khi áp dụng các sách Phúc âm vào thời đại chúng ta sống sao?

Tôi trả lời câu hỏi này với sự cẩn thận. Ba giai đoạn phát triển mà cao điểm là công việc soạn thảo các Phúc âm mà tôi vừa trình bày (câu 40) đã khai sinh những cuốn sách mà Thiên Chúa quan phòng đã ban để hướng dẫn các Kitô hữu qua các thời đại - nói gọn hơn, là những sách được linh hứng. Một khi những sách Kinh Thánh này được phát hành, chúng biểu hiện một giai đoạn dứt khoát trong truyền thống của Đức Giêsu, theo nghĩa là tất cả các thế hệ sau sẽ dùng những sách đó như là chìa khóa về những gì Chúa đã nói và làm, và như thế, cũng có nghĩa là những sách này chính là mẫu mực cho niềm tin Kitô giáo. Điều chắc chắn là mỗi một thế hệ Kitô hữu phải tiếp nối công việc chuyển dịch, thích nghi, và làm sống động sứ điệp của Chúa Giêsu vào thời đại mới của mình. Nhưng chúng ta làm công tác đó bằng việc suy niệm dựa trên các Phúc âm đã được viết ra hoặc trên Tân Ước (hoặc trên Kinh Thánh); chúng ta không xuất bản một bộ Kinh Thánh mới. Dĩ nhiên, chúng ta xuất bản những sách mới (cũng như Giáo hội đưa ra những nhận định mới) chứa đựng những cách chú giải hiện nay về Chúa Giêsu cho những vấn nạn mới; nhưng không một cuốn sách mới nào trong số đó có được vị trí của các sách Phúc âm trong thế kỷ đầu. Những sách mới này sẽ không được coi là do Thiên Chúa linh hứng theo cách thức Kinh Thánh được linh hứng. Tôi thấy  ngày nay vẫn có một tiến trình suy nghĩ, nghiền ngẫm, và tiến triển tương tự, nhưng tiến trình “hậu Phúc âm” này được định hướng một cách đặc biệt bởi các sách Phúc âm là những tác phẩm đã được viết ra như là mẫu mực và qui tắc phải theo.

Tuy nhiên, câu hỏi của bạn có vài ứng dụng của cách tiếp cận ngày nay về Phúc âm. Thật thú vị khi suy nghĩ về hai cách thức tiếp cận Phúc âm mà tôi đã đặt chúng tương phản nhau, và hai cách thức đó đã tạo nên hai mẫu người Kitô hữu khác nhau. Trong cái nhìn sách Phúc âm là tiểu sử, nghĩa là phù hợp từng lời rập đúng như những gì Chúa Giêsu đã làm và nói, như thế đã không có sự tiến triển từ thời của Ngài cho đến thời của các tác giả Phúc âm, chức năng rõ ràng (và duy nhất) của việc rao giảng và tuyên xưng là bảo tồn mà thôi: lặp lại những gì Chúa Giêsu đã làm và nói, không thêm, không bớt, và không thay đổi theo từng thập niên. Còn trong cái nhìn mà tôi đã đề cập trên, trong đó có tiến triển, thay đổi, và chọn lọc ..., khi đó đã có sự đóng góp trong mỗi giai đoạn. Các Kitô hữu thấu hiểu cái nhìn này sẽ cảm thấy bổn phận đóng góp vào việc rao giảng, tìm hiểu và khai triển sứ điệp Chúa Giêsu (nhưng lúc này phải lệ thuộc vào sách Phúc âm đã được viết ra như tôi đã nói ở trên). Hai cái nhìn này làm nẩy sinh hai mẫu người Kitô hữu khác nhau: mẫu người này chủ trương bảo tồn nguyên vẹn, không thay đổi; mẫu người kia chủ trương luôn luôn phát triển và thích nghi nhưng vẫn bảo tồn. Những người chịu ảnh hưởng cách suy nghĩ thứ nhất rất sợ thay đổi, vì điều này có thể làm hư hoại sự bảo tồn và thay đổi sự hiểu biết về truyền thống. Những người trong cách suy nghĩ thứ hai thì lại nhìn sự thay đổi là những cơ hội mới trong việc giảng giải và hiểu thấu toàn bộ sứ điệp của Chúa Giêsu và những áp dụng của sứ điệp đó.

Theo tôi, rõ ràng cái nhìn thứ hai trung thành hơn với những canh tân quan trọng mà chính Chúa Giêsu đã mang lại. Tôi xin kể ra đây một câu chuyện: Tôi đến thăm một giáo phận tổ chức một năm đặc biệt cử hành giáo huấn Giáo hội, việc truyền bá Tin mừng và những hình thức khác để rao giảng sứ điệp. Để minh họa, họ đã làm một biểu ngữ nói rõ ý hướng này. Theo như tôi nhớ thì biểu ngữ vẽ hình đôi bàn tay từ đám mây hướng xuống, và đôi bàn tay của con người từ trái đất đưa lên, kèm theo dòng chữ viết: Hãy chuyền tay những gì bạn đã lãnh nhận. Một người hỏi tôi ý kiến về tấm biểu ngữ, và tôi trả lời là tấm biểu ngữ thật đáng khen ngợi, nhưng tôi lại muốn có thêm một biểu ngữ khác treo bên cạnh với hàng chữ: Nhưng trước khi chuyền tay, bạn hãy đóng góp phần của bạn. Nhu cầu đóng góp của từng thế hệ vào việc phát triển sự hiểu biết về Chúa Giêsu cần được nhấn mạnh. Chúa Giêsu đã đưa ra một dụ ngôn mô tả một người rất hạnh phúc trong cách chuyển nhượng những gì anh đã lãnh nhận; anh gói số bạc do chủ giao cho trong một cái khăn tay rồi đem chôn vì sợ mất. Ai cũng biết kết quả khi anh bị đem ra xét xử: anh bị coi như người đầy tớ vô dụng, vì đã không thêm gì vào số tiền anh đã lãnh nhận. Việc bổ sung và phát triển truyền thống của Chúa Giêsu trong các giai đoạn hình thành Phúc âm, theo ý tôi, có ý nghĩa biểu tượng về bổn phận chính yếu của các Kitô hữu trong việc loan báo Chúa Giêsu.

 

Câu 44. Nhưng cái nhìn ngụ ý sự phát triển của truyền thống đối với các Phúc âm có phải căn bản muốn nói rằng các sách Phúc âm không còn là những tài liệu lịch sử nữa không?

Không. Tôi nhấn mạnh là các sách Phúc âm vẫn có tính cách lịch sử theo nghĩa là chúng đã được xuất phát và có nội dung căn bản từ truyền thống về những gì Chúa Giêsu đã nói và làm trong lúc Ngài còn sống. Tuy nhiên, chúng không phải là những trình thuật từng chữ những gì Ngài đã nói và làm cho dù chúng vẫn mang tính cách lịch sử. Các sách Phúc âm không phải là những trình thuật theo kiểu được ghi chép bằng máy ghi âm hay do các phóng viên ghi lại và chuyển thành chữ viết để phát hành vào ngày hôm sau.

Điểm lý thú là vào năm 1964, Ủy ban Giáo hoàng về Kinh Thánh đã khai triển quan điểm này nơi tài liệu có đầu đề “Sự thật lịch sử của các sách Phúc âm”. Sau khi đã bàn luận về ba giai đoạn phát triển (câu 40), Ủy ban đã có ý kiến về tương quan giữa lịch sử và sự phát triển truyền thống bằng cách xác định rằng: sự thật của câu chuyện không bị chi phối bởi sự kiện các tác giả viết lại lời nói và việc làm của Chúa trong một trật tự khác, và đã không diễn tả những lời Ngài nói theo đúng từng chữ, cho dù họ vẫn giữ được ý nghĩa của những lời đó. Lý do tại sao sự thật không bị chi phối là vì giáo lý và cuộc đời của Chúa Giêsu đã không được thuật lại với mục đích hoài niệm, nhưng được rao giảng để cống hiến cho Giáo hội một nền tảng đức tin và thực hành luân lý. Xin tóm lại những điều tôi đã nói: Việc rao giảng Phúc âm lấy từ sứ vụ Chúa Giêsu không nhắm mục tiêu lịch sử, và không đòi hỏi việc bảo tồn theo nghĩa từng chữ, nhưng có mục đích là thích nghi với nhu cầu của người nghe hiện tại và trong khuôn khổ này mà chúng ta có thể gọi là lịch sử.
%%%

Q. 38. When you were asked about the historicity of the New Testament, you responded largely in terms of Paul's letters and their authorship. What about the Gospels? How reliable are their portraits of Jesus?

Very often an overall response is that the Gospels are not biographies, and in general that is true. Normally a biographer has the primary intention of writing a full life of an individual, recording all that we can know about him or her. Two of the Gospels (Mark and John) tell us nothing about Jesus' origins, birth, or early life before his encounter with John the Baptist. Mark never mentions the name of Jesus' legal father (Joseph) and John never mentions the name of his mother (Mary-yes, he speaks of "the mother of Jesus" but he never gives us her name; if we had only John, we would not know Mary's name). Those lacunae exemplify the absence from the Gospels of a considerable amount of biographical material that should have been included were the evangelists writing biographies of Jesus.


Yet I would point out that, while in general the Gospels are not biographies, the Gospel According to Luke, since it is joined to the Book of Acts, which narrates a loose type of history of the early Christians, and since it does have a story of Jesus' conception, birth, and youth, would come closer to the appearance of a biography than any of the other Gospels. Also, while no Gospel gives us a complete or dispassionate account of Jesus' life, all the Gospels give us some historical data about the circumstances of his life, his words, and his deeds. Therefore the statement that the Gospels are not biographies does not in any way rule out that their portraits are more than simply theological evaluations-they are interpretations of a real life, real words, and real deeds.



Q. 39. I was brought up reading lives of Christ in school and on retreats. You just mentioned that it was a real life that he lived. Nevertheless, it seems to me that we see very few lives of Christ today. When did this approach change?


Your question correctly assumes a connection between treating the Gospels as biographies and writing lives of Christ. If the Gospels are not considered biographical or simply historical, there will be much less tendency to gather what we know of Jesus into a "life," for scholars will acknowledge that gaps in the evidence frustrate that goal. As for when we started taking a less biographical approach and thus thinking less immediately of lives of Christ, the answer depends to a certain extent on who the "we" are. The change of approach to the Gospels is a result of modern biblical criticism, and distinguished Protestants scholars were already employing criticism in relation to the Gospels in the last century. (For what I mean by criticism, I remind you of a previous answer: Q. 28 above.) Roman Catholics came latterly into the acceptance of a modern critical approach to the New Testament and to the Gospels. Yet, as often happens, when after prolonged hesitation we Catholics accept new approaches, we proceed with an official church statement of our position. Protestants were using these methods long before they were accepted by Catholics, but Protestant churches have not made the same kind of official commitment to them that the Roman Catholic Church has.






In particular, in the period just before Vatican II and during the Council, there was an active and even acrimonious debate in official Catholic circles about the Gospels and their historicity. This culminated in 1964 when the Pontifical Biblical Commission (at that time an official organ of Church teaching with binding authority when approved by the Pope) issued a document on "The Historical Truth of the Gospels." (An essential part of this is reprinted in my Biblical Reflections on Crises Facing the Church [New York: Paulist, 1975, pp. 111-115].) The scholars who contributed to the document were attempting to put together a centrist approach, drawing on their Protestant and Catholic confreres. They gave a picture of Gospel development that led to the conclusion that the Gospels are not literal accounts of the ministry of Jesus nor do they report material simply that it might be remembered. I am very sympathetic with that phrasing, and I think many other New Testament scholars would be also.



Q. 40. Could you be more specific? If you say the Gospels are not literal accounts of the ministry of Jesus and they are not biographies, what are they? How should we understand them?


I shall not hide from you that scholars might answer that in different ways. But the response that I will give will be phrased in terms of the outline supplied by the document of the Roman Pontifical Biblical Commission mentioned in the last response. Then at least you can see how a whole committee of scholars approached the question, and that my response is in harmony with an official stance accepted by the Roman Catholic Church. This response may be a bit long, but I think you can follow it if I spell out from the beginning that there are three stages in a development of tradition about Jesus that led to the production of Gospels.


In STAGE ONE the process began with Jesus' public life: the period of activity in Galilee and environs where he preached and healed. This approach insists that Jesus did things of note and that he orally proclaimed his message, so that followers (especially those who traveled with him, some of whom would later be known as apostles) heard and saw what he said and did. It is very important to emphasize that his were the words and deeds of one who lived as a Galilean Jew in the first third of the first century; his manner of speaking, the problems he faced, his vocabulary and outlook were those of a Galilean Jew of that specific time. Many of the failures to understand Jesus and the misapplications of his thoughts stem from the fact that people remove him from space and time and imagine that he was dealing with issues that he never encountered.



STAGE TWO in the development of the Jesus tradition that eventually produced the Gospels consisted of a preaching phase that occurred after the death and resurrection of Jesus. If one wants to assign chronological perimeters to these stages, I have already assigned the first third of the century to Stage One, and I would assign the second third of the first century (roughly to 65) to this preaching in Stage Two. Those who had heard and seen Jesus had their general acceptance of him confirmed through the resurrection and came to believe in him under various titles (Messiah/Christ, Lord, Savior, Son of God, etc.). In proclaiming him, they developed further the story of what they had heard and seen under the influence of the faith they now possessed, which illumined for them the significance of those past events. Thus there was no attempt to report with simple, uncolored factuality what Jesus had said and done. Rather the report was enlightened by a faith that the preachers wanted to share.


Inevitably others who had not heard and seen Jesus joined in this proclamation in dependence on what they received from the original witnesses, so that the preaching was a combination of eyewitness and non-eyewitness narration. We are not guessing at that: in I Cor 15, Paul after referring to a set formula of the Jesus tradition concerning death, burial, resurrection, and appearance ( 15:3- 5), mentions Cephas (Peter) and the Twelve (who would have been eyewitnesses) and also mentions himself (and he had not been an eyewitness of the ministry of Jesus). Then he says to the audience of his letter: "Whether then it was I or they, so we preach and so you believed."


Another factor, besides the enrichment supplied by faith and the entrance of non-eyewitnesses into the preaching, was the necessary adaptation of the preaching to a new audience. If Jesus was a Galilean Jew of the first third of the first century, the Gospel was preached in cities to urban Jews and Gentiles; it was preached eventually in Greek, a language that Jesus did not normally speak in Galilee (if he spoke it at all). All of this meant a good deal of translation in the broader sense of the term, and this translation designed to make the message both intelligible and alive for new audiences was part of the development of the Gospel tradition.



STAGE THREE involved the actual writing of the Gospels as we now know them. This stage I will date to the last third of the first century, fixing Mark about 70, Matthew and Luke in the period 80-90, and John in the 90s-all of this an approximation, give or take ten years. Sections of the Jesus tradition were probably already in writing before the evangelists composed their respective Gospels, but none of that pre-Gospel writing has been preserved for us. A key to understanding Stage Three is that most likely none of the evangelists was himself an eyewitness of the ministry of Jesus. All were what we may call second-generation Christians: They had heard about Jesus from others and were organizing the tradition they had received into a written Gospel. That insight saves us from an enormous number of problems that bedeviled an earlier generation of commentators who thought that some of the evangelists had themselves seen what they reported. In that previous approach a John who reports the cleansing of the Temple at the beginning of the ministry in chapter 2 and a Matthew who reports the cleansing of the Temple at the end of the ministry in chapter 21 had to be reconciled by maintaining that the cleansing happened twice, and that each evangelist chose to report only one of the two instances. In the approach I am proposing, where neither writer was an eyewitness, each received a form of the story of the cleansing of the Temple from the Jesus tradition; neither one may have known when it actually occurred during the ministry, since he was not there; but each included it in the written Gospel in the position where it best served the plan of the Gospel. I could give ten other instances of where the eyewitness approach to the evangelists causes theories of doubling or other implausible explanations, and where the non-eyewitness approach offers a very simple solution; for it explains well Gospels that frequently contain the same material but just as frequently have that material arranged in entirely different ways. The end product of this is the judgment that the Gospels are in logical order, not necessarily in chronological order. Each evangelist has ordered the material according to his understanding of Jesus and his desire to portray Jesus in a way that would meet the spiritual needs of the community to which he was addressing the Gospel. Thus the individual evangelists emerge as full authors of the Gospels, shaping, developing, pruning the tradition, and as full theologians, orienting that tradition to a particular goal.
 




Thus in overall response to the question about what the Gospels are, I would describe a Gospel as containing a distillation from the tradition about Jesus, involving his words, deeds, passion, death, and resurrection. This distillation was organized, edited, and reshaped by an evangelist in the last third of the first century in order to address the spiritual needs of Christian readers he envisaged. That is why the document of the Roman Pontifical Biblical Commission from which I have drawn this outline of three stages can evaluate the Gospels as historical but not as an exact memory or a literal account.


 

Q. 41. What practical effect has the modern approach to the Gospels as the product of developing tradition had for our spiritual use of the Gospels?

Let me answer by a practical example. One needs simply to turn to the Sunday Lectionary (that collection of Old Testament and New Testament readings that we use in church for liturgies), a lectionary that in its broad lines is now accepted by many different Christian churches. In the Roman Catholic Church, before the current lectionary was introduced, one heard the same 52 passages on the Sundays of every year. Those passages were intermingled without distinction from the Gospels, so that one Sunday the parishioners might have heard a passage from Matthew, and another Sunday from Luke, but rarely from Mark. Very often in my experience as a priest, one might have preached on a passage such as the parable of the sower without ever emphasizing which Gospel it came from. That was because both preacher and audience had the impression that the individual Gospel background made no difference in the meaning of the passage - Jesus had spoken the parable, and the evangelists were only reporters.

In the new three-year lectionary, however, the Gospel readings are from Matthew in the first year, from Mark in the second year, and Luke in the third year. The Gospel readings from John are at specified times, like Lent and Easter. That organization recognizes the great importance of localizing a particular pericope (i.e., the Gospel passage of the day) in the Gospel from which it was taken, because the context of the whole Gospel lends meaning to the pericope. For example, the story of the multiplication of the loaves occurs in all four Gospels; but it can have a different meaning in each according to the logic of the evangelist. Perhaps not all preachers are aware of this; yet the organization of the lectionary urges them to be aware of it.

Q. 42. You have said that the evangelists were not eyewitnesses. We were taught that Matthew and John wrote Gospels, and these were certainly eyewitnesses of the ministry of Jesus.


That is a reaction that I often get from Catholics and a very understandable reaction because we were taught exactly those identifications, at least up until about 1960. In the early 1900s the Roman Pontifical Biblical Commission issued official answers to a number of questions that had been provoked by the development of critical biblical scholarship, particularly among Protestants. It insisted that substantially the Gospel that appears first in the New Testament represented the work (perhaps in translation) of Matthew, one of the Twelve, and that the Fourth Gospel was the work of John, one of the Twelve. (There were also solutions commanded for Old Testament questions: Moses wrote the Pentateuch; Isaiah was one book; Daniel was written in the sixth century B. C.)

In the mid-1950s, however, as I mentioned before (Q. 24), the secretary of the same Roman Pontifical Biblical Commission explained that now Catholics had full freedom with regard to such decrees except when they touched on faith and morals (and really none of them did that in any substantial way). That means that while earlier Catholic teaching about the identity of the evangelists was bound by an official church response, that is no longer the case. Catholics are now as free as anyone else to express their views about the identity of the evangelists. By the way, the somewhat embarrassing public change of mind about a strongly enforced position underlines the danger of invoking church authority to settle what are basically scientific questions-questions not about doctrine but about authorship, date, and composition. Faith and morals are the restricted area in which the Spirit guides the church.

 



The view that the evangelists were not themselves eyewitnesses of the public ministry of Jesus would be held in about 95% of contemporary critical scholarship. The 1964 decree of the Roman Biblical Commission (Q. 40 above) did not enter into the identity of the evangelists, although it described them very clearly as different from those who preached in Stage Two and thus implicitly created a distinction between the evangelists and the preachers, some of whom had been companions of Jesus. Yet I should alert you that the church has continued and most likely will continue to use the ancient designation "apostles and apostolic men" for describing the authors of the Gospels, not by way of teaching that they were eyewitnesses, but by way of emphasizing the connection between their works and the apostolic eyewitness.


Let me add that the designations that you find in your New Testament, such as "The Gospel According to Matthew" (note that the oldest designation is "According to" and not "of" ), are the results of late-second-century scholarship attempting to identify the authors of works that had no identification. No evangelist indicated who he was. The closest one comes to that in the Gospels is the indication in the Fourth Gospel that an eyewitness, "the disciple whom Jesus loved," was the source of what is written in the Gospel (John 21:24), but then that Gospel never identifies the disciple whom Jesus loved. In the first century, if the question "Whose Gospel is this?" were proposed, what is written at the beginning of the Gospel that we now know as the Gospel According to Mark might be the key. That evangelist wrote "The beginning of the Gospel of Jesus Christ."
 


Q. 43. You described an approach where the tradition that came from Jesus was modified and developed in stages before the Gospels. Are we not involved in the same type of development ever since when we apply the Gospels to our own time?


I would answer that cautiously. The three stages of development culminating in the written Gospels that I have described (Q. 40) produced books that God in His providence supplied for the guidance of Christians for all ages - in shorthand, inspired books. Once those books of Scripture were produced, they represented a definitive stage of the Jesus tradition, i.e., definitive in the sense that all subsequent generations would use them as its key to what Jesus said and did, and therefore in the sense that these books constitute the norm for Christian belief. There is no doubt that each generation of Christians must continue the process of translating, adapting, and keeping alive Jesus' message for new times. But we do that by reflecting on the written Gospels or on the New Testament (or on the Bible); we do not produce new Scriptures. Of course, we produce new books (even as the church produces new statements) embodying current interpretations of Jesus in the light of new questions; but none of those will acquire the same status as the Gospels of the first century. They will not be regarded as inspired by God in the way in which the Scriptures are. Thus I see at work today a similar process of thought, reflection, and development, but the post-Gospel process is determined by the written Gospels as a norm and guide in a unique way.

 



Nevertheless, your question does catch some of the implications of our current approach to the Gospels. It is interesting to reflect on the two approaches to the Gospels that I have contrasted, and what type of Christians they might produce. In a biographical approach where the Gospels are in verbatim correspondence with what Jesus did and said, so that there has been no development from his time to that of the evangelists, the clear (and really the only) function of preaching and proclamation is preservation: to take what Jesus said and did and repeat it, without addition, without subtraction, and without modification in each decade. In the approach I have outlined, where there is development, modification, selection, etc., then in each stage there was a contribution. Christians who understand this will see that they must make a contribution in their time to the proclamation and understanding and development of the message about Jesus (but now in dependence on the written Gospels, as I have said). These two approaches, then, produce different Christian models: one is of simple, unchanging preservation; the other is of constant growth and adaptation while preserving. Those who are dominated by the first model will be enormously threatened by change, since that could interfere disastrously with preservation and modify the under standing of the tradition. Those dominated by the second model are more likely to see in change new opportunities of interpreting and comprehending the whole of Jesus' message and its implications.
 


Obviously, I think of the latter approach as more faithful to tremendous innovations that Jesus himself made. I like to tell the story that once I visited a diocese that for a special year was celebrating Christian teaching and evangelization and other aspects of dealing with the message. To illustrate this they had designed a banner expressive of their intent. As I remember, it showed two hands reaching down from the clouds and two hands reaching up from a human being on earth, and the inscription was: Pass on what you have received. A questioner asked me my opinion of the banner; and I said that I thought it admirable, but I would want another banner to hang alongside it, a banner with the inscription: Before you pass it on, however, make your own contribution. The necessity of each generation making its contribution to the development of the understanding of Jesus should be emphasized. Jesus had a parable that featured a man who was very happy to pass on what he had received; he wrapped up the money given to him by the master in a handkerchief and buried it lest any of it be lost. The judgment on that man is well known; he was regarded as a worthless servant because he had not added to what he had received. The addition to and development of the Jesus tradition in the stages of the formation of the Gospels are in my mind parabolic of an essential Christian duty in proclaiming Jesus.


Q. 44. But does not such an approach to the Gospels, involving developing tradition, mean that basically they are not any more to be considered as historical?

No, I would insist that they are historical in the sense that they stem from and have as their basic content the tradition of what Jesus did and said in his lifetime. They are not Iiteral accounts of what he did and said, however, even if they are historical. They are not accounts such as would be supplied today by tape recorders or reporters taking notes and transcribing those notes for publication the next day.

Interestingly, it was precisely under the title of "the historical truth of the Gospels" that the Roman Pontifical Biblical Commission in I 964 expounded this approach. At the end of the discussion of the three stages of development (Q. 40), the Commission commented on the relationship between history and such a developing tradition by stating that the truth of the story is not affected by the fact that the evangelists relate the words and deeds of the Lord in a different order and do not express his sayings literally, even though they preserve the sense of the sayings. The reason why the truth is not affected is because the doctrine and life of Jesus were not reported simply for the purpose of being remembered, but were preached so as to offer the church a basis of faith and moral practice. Let me summarize all that I have been saying: This proclamation of Gospel material flowing from the ministry of Jesus does not have a biographical intent and does not bring about literal preservation; it has as its goal adaptation to the needs of the living audiences, and within that framework it may be called historical.